Những hiểu biết chung về quy chế

Đăng ngày: 19-09-2014; 4355 lần đọc

Hướng dẫn sinh viên về Quy chế đào tạo

I. Những hiểu biết chung về quy chế

1. Chương trình đào tạo là gì?     8. Lớp sinh viên là gì?
2. Học phần là gì?   9. Lớp học phần là gì?
3. Có những loại học phần nào?   10. Tài khoản của sinh viên để truy cập website đăng ký học là gì?
4. Tín chỉ là gì?   11. Đăng ký khối lượng học tập là gì?
5. Thế nào là học phí tín chỉ?   12. Rút học phần là gì?
6Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá như thế nào?   13. Xếp hạng học lực là gì?
7. Mỗi năm học có mấy học kỳ & có bắt buộc phải học tất cả các học kỳ hay không?   14. Cảnh báo kết quả học tập là gì?

1. Chương trình đào tạo là gì?

- Chương trình đào tạo (sau đây gọi tắt là chương trình) cần thể hiện rõ: trình độ đào tạo; đối tượng đào tạo, điều kiện nhập học và điều kiện tốt nghiệp; mục tiêu đào tạo, chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học khi tốt nghiệp; khối lượng kiến thức lý thuyết, thực hành, thực tập; kế hoạch đào tạo theo thời gian thiết kế; phương pháp và hình thức đào tạo; cách thức đánh giá kết quả học tập; các điều kiện thực hiện chương trình. 

- Mỗi chương trình gắn với một ngành (kiểu đơn ngành) hoặc với một vài ngành (kiểu song ngành, kiểu ngành chính - ngành phụ, kiểu 2 văn bằng) và được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến thức: giáo dục đại cương và giáo dục chuyên nghiệp.

2. Học phần là gì?

Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, thuận tiện cho sinh viên tích luỹ trong quá trình học tập.Phần lớn các học phần có khối lượng kiến thức từ 2 đến 4 tín chỉ, nội dung được bố trí giảng dạy trọn vẹn và phân bố đều trong một học kỳ.Kiến thức của mỗi học phần phải phù hợp với mức trình độ của năm học tổ chức giảng dạy và được kết cấu riêng như một phần của môn học hoặc được kết cấu dưới dạng tổ hợp từ nhiều môn học.Mỗi học phần đều có mã số riêng.

3. Có những loại học phần nào?

+ Học phần bắt buộc

Học phần bắt buộc là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức chính yếu của mỗi chương trình và bắt buộc sinh viên phải tích luỹ.

+ Học phần tự chọn

Học phần tự chọn là học phần chứa đựng những nội dung kiến thức cần thiết, nhưng sinh viên được tự chọn theo hướng dẫn của Nhà trường nhằm đa dạng hoá hướng chuyên môn.

+ Học phần tương đương và học phần thay thế

Học phần tương đương là một hay một nhóm học phần thuộc chương trình của một khóa, ngành khác đang tổ chức đào tạo tại trường được phép tích lũy để thay cho một học phần hay một nhóm học phần trong chương trình của ngành đào tạo.

Học phần thay thế được sử dụng khi một học phần có trong chương trình nhưng nay không còn tổ chức giảng dạy nữa và được thay thế bằng một học phần khác đang còn tổ chức giảng dạy.

Các học phần hay nhóm học phần tương đương hoặc thay thế do khoa chuyên môn đề xuất, Hiệu trưởng phê duyệt trước khi bổ sung cho chương trình trong quá trình tổ chức đào tạo. Những học phần này được áp dụng cho tất cả các khóa, ngành hoặc hạn chế cho một số khóa, ngành.

+ Học phần tiên quyết

Học phần A là học phần tiên quyết của học phần B, khi sinh viên muốn đăng ký học học phần B thì phải đăng ký học và thi đạt học phần A.

+ Học phần học trước

Học phần A là học phần học trước của học phần B, khi sinh viên muốn đăng ký học học phần B thì phải đăng ký và học xong học phần A. 

+ Học phần song hành

Các học phần song hành với học phần A là những học phần mà sinh viên có thể học đồng thời cùng với học phần A. 

+ Học phần đặc biệt

Các học phần đặc biệt là các học phần không tính tích lũy tín chỉ nhưng sinh viên phải học và được cấp chứng chỉ mới đủ điều kiện tốt nghiệp bao gồm: học phần giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất, học phần ngoại ngữ (thí điểm).  

4. Tín chỉ là gì?

Tín chỉ (TC) dùng để tính khối lượng học tập của sinh viên. Một tín chỉ được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết (trong tổ chức đào tạo, thường 1 tín chỉ của học phần lý thuyết được quy định bằng 12 tiết học lý thuyết và 6 tiết thảo luận); 30 tiết thảo luận; 30 tiết thực hành, thí nghiệm; 60 giờ làm tiểu luận, bài tập lớn, đồ án hoặc khoá luận tốt nghiệp; 60 giờ thực tập tại Trung tâm thực nghiệm. Trường hợp đặc biệt, Khoa chuyên môn đề nghị Hiệu trưởng phê duyệt.

Đối với những học phần lý thuyết hoặc thực hành, thí nghiệm, thảo luận để tiếp thu được một tín chỉ sinh viên phải dành ít nhất 30 giờ tự học.

5. Thế nào là học phí tín chỉ?

Học phí tín chỉ là đơn vị dùng để lượng hóa chi phí của các hoạt động giảng dạy, học tập tính cho từng học phần. Học phí sinh viên phải đóng trong mỗi học kỳ được xác định căn cứ theo số học phần mà sinh viên đăng ký và được chấp nhận, bằng tổng số học phí tín chỉ của từng học phần. Học phí tín chỉ của mỗi học phần bằng số tín chỉ học phí quy định cho học phần đó nhân với mức tiền học phí/1 tín chỉ học phí của học phần. Mức tiền học phí/1 tín chỉ học phí của từng học phần do Hiệu trưởng quy định theo từng học kỳ. Riêng đối với các tín chỉ tiếng Anh không tích lũy đối với sinh viên hệ đại học chính quy đại trà mức tiền học phí/ 1 tín chỉ sẽ lấy theo Quy định về học tiếng Anh tăng cường của Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc theo Quy định riêng của Nhà trường.

6. Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá như thế nào?

Kết quả học tập của sinh viên được đánh giá sau từng học kỳ qua các tiêu chí sau:

a. Khối lượng kiến thức đăng ký: tổng số tín chỉ của các học phần mà sinh viên đăng ký và được chấp nhận;

b. Điểm trung bình chung học kỳ: điểm trung bình có trọng số của các học phần (kể cả đạt và không đạt) mà sinh viên đăng ký trong học kỳ đó (trừ các học phần học cải thiện điểm), với trọng số là số tín chỉ tương ứng của từng học phần;

c. Khối lượng kiến thức tích lũy: khối lượng tính bằng tổng số tín chỉ của các học phần đã được đánh giá đạt (bằng các điểm chữ A, B, C, D) tính từ đầu khóa học;

d. Điểm trung bình chung tích lũy: điểm trung bình chung có trọng số của các học phần mà sinh viên tích luỹ được (đã đạt) tính từ đầu khoá học cho đến thời điểm xem xét.

7. Mỗi năm học có mấy học kỳ & có bắt buộc phải học tất cả các học kỳ hay không?

Một năm học gồm hai học kỳ chính, mỗi học kỳ chính có ít nhất 16 tuần, trong đó có 15 tuần dành cho các hoạt động giảng dạy, học tập, kiểm tra thường xuyên, 1 tuần nghỉ giữa học kỳ (term break - để sinh viên hoàn thành bài tập, bài tập lớn.v.v. và để giảng viên hoàn thiện việc chấm bài tập, bài kiểm tra.v.v) và 3 tuần thi kết thúc học phần. Ngoài hai học kỳ chính, nhà trường tổ chức học kỳ phụ vào dịp hè (gọi tắt là học kỳ hè) gồm ít nhất 7,5 tuần thực học và 1,5 tuần thi kết thúc học phần. Mục đích của học kỳ hè là để sinh viên có các học phần bị đánh giá không đạt (điểm F) học lại, học cùng một lúc hai chương trình, sinh viên có nhu cầu cải thiện điểm ở các học kỳ chính và sinh viên giỏi học vượt nhằm kết thúc sớm chương trình. Sinh viên đăng ký tham gia học kỳ hè trên cơ sở tự nguyện, không bắt buộc và không được miễn giảm học phí theo quy định như ở học kỳ chính.

8. Lớp sinh viên là gì?

Lớp sinh viên tổ chức theo khoá học của ngành đào tạo. Lớp sinh viên duy trì trong cả khoá đào tạo, có tên riêng, có lớp trưởng, hệ thống đoàn, hội sinh viên. Mỗi lớp sinh viên có một giáo viên chủ nhiệm.

Giáo viên chủ nhiệm đồng thời đảm nhiệm vai trò cố vấn học tập cho sinh viên trong việc lập kế hoạch học tập trong từng học kỳ và toàn bộ khoá học.v.v. Tổ chức hoạt động của lớp sinh viên, vai trò và trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệm được quy định trong Quy chế công tác sinh viên của trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp.

9. Lớp học phần là gì?

Lớp học phần được tổ chức theo từng học phần dựa trên kết quả đăng ký học tập của sinh viên, có thời khoá biểu, lịch thi, mã số riêng. Mỗi lớp học phần có một lớp trưởng, lớp phó do giảng viên phụ trách học phần chỉ định.

10. Tài khoản của sinh viên để truy cập website đăng ký học là gì?

Website đăng ký học của Trường là  http://www.tnut.edu.vn  Mỗi sinh viên có một tài khoản tại website này. Để đăng nhập sinh viên phải nhập số thẻ sinh viên của mình và mật khẩu. Ban đầu, mật khẩu được đặt trước và chung (quy định theo từng năm). Sau khi đăng nhập, sinh viên đổi mật khẩu và tự quản lý.

11. Đăng ký khối lượng học tập là gì?

Trước khi bắt đầu mỗi học kỳ, tuỳ theo khả năng và điều kiện học tập của bản thân, sinh viên nên tham khảo giáo viên chủ nhiệm về các học phần dự định sẽ đăng ký trong học kỳ để được tư vấn.

Có 3 hình thức đăng ký học phần trong mỗi học kỳ: sớm, bình thường và muộn.

a. Đăng ký sớm được thực hiện trước thời điểm bắt đầu học kỳ từ 1 đến 2 tháng;

b. Đăng ký bình thường được thực hiện trước thời điểm bắt đầu học kỳ 2 tuần;

c. Đăng ký muộn được thực hiện trong 2 tuần đầu của học kỳ chính hoặc trong tuần đầu của học kỳ phụ cho những sinh viên muốn đăng ký học thêm hoặc đăng ký học đổi sang học phần khác.

12. Rút học phần là gì?

Rút học phần là rút bớt học phần trong khối lượng học tập đã đăng ký trong 2 tuần đầu học kỳ chính hoặc trong 1 tuần của học kỳ phụ theo thông báo của Nhà trường thông qua mạng Internet, do bản thân bị quá sức học hoặc không đủ năng lực tài chính. Ngoài thời hạn nêu trên, nếu sinh viên tự ý bỏ học sẽ phải nhận điểm F và vẫn phải nộp học phí các học phần đó. Đối với những học phần của học kỳ chính ngay trước học kỳ phụ, nếu sinh viên đăng ký học lại hoặc học cải thiện điểm trong học kỳ phụ thì không có quyền rút học phần đã đăng ký.

13. Xếp hạng học lực là gì?

Sau mỗi học kỳ, căn cứ vào điểm trung bình chung tích luỹ, sinh viên được xếp hạng về học lực như sau:

a. Hạng bình thường: Có điểm trung bình chung tích luỹ đạt từ 2,00 trở lên.

b. Hạng yếu: Có điểm trung bình chung tích luỹ đạt dưới 2,00 nhưng chưa rơi vào trường hợp buộc thôi học.

c. Kết quả học tập trong học kỳ phụ (trừ các học phần học cải thiện điểm) được tínhvào điểm trung bình chung học kỳ của học kỳ chính ngay trước đó nếu sinh viên có nguyện vọng bằng đơn với khoa chuyên môn.

14. Cảnh báo kết quả học tập là gì?

Sau mỗi học kỳ, sinh viên bị cảnh báo kết quả học tập nếu rơi vào một trong các trường hợp sau:

a. Có điểm trung bình chung học kỳ đạt dưới 0,8 đối với học kỳ đầu của khóa học; đạt dưới 1,00 đối với các học kỳ tiếp theo;

b. Có điểm trung bình chung tích lũy học kỳ đạt dưới 1,10 tính đến học kỳ thứ nhất và 1,20 tính đến các học kỳ tiếp theo đối với sinh viên năm thứ nhất; dưới 1,30 tính đến học kỳ thứ nhất và 1,40 tính đến các học kỳ tiếp theo đối với sinh viên năm thứ hai; dưới 1,50 tính đến học kỳ thứ nhất và 1,60 tính đến các học kỳ tiếp theo đối với sinh viên năm thứ ba; dưới 1,70 tính đến học kỳ thứ nhất và 1,80 tính đến các học kỳ tiếp theo đối với sinh viên năm thứ tư và thứ năm.

==> Quay về mục lục

Tin mới hơn

Tin cũ hơn

tin tuc tin tuc 24h