LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA CƠ KHÍ

Đăng ngày: 08-07-2015; 597 lần đọc

Phát triển đào tạo trong điều kiện chiến tranh;

2. Giai đoạn 1972 – 1975

Năm 1972, khoa Cơ khí cùng với khoa Điện đã chính thức được thành lập. Ngày 30/10/1972, lễ công bố quyết định thành lập khoa Cơ khí được tiến hành trọng thể trong một căn nhà lá đơn sơ của khu Hiệu bộ trường Đại học Cơ Điện, đóng trên địa bàn xã Tích Lương, huyện Đồng Hỷ (nay là phường Tích Lương, Thành phố Thái Nguyên). Quyết định này là một mốc son đánh dấu quá trình hình thành và phát triển của khoa Cơ khí trong trường Đại học Cơ Điện, tiền thân của trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp ngày nay. Cùng với mốc son thành lập khoa, những ngày cuối tháng 10/1972 cũng đánh dấu sự thành lập bốn bộ môn chuyên môn của Khoa trên cơ sở các tổ chuyên môn đã được hình thành kể từ những năm đầu thành lập trường, bao gồm:

- Bộ môn Máy cắt: Được thành lập mới, ban đầu chỉ có 02 giảng viên phụ trách chuyên môn của môn học Máy cắt kim loại, giảng dạy cho sinh viên ngành Cơ khí.

- Bộ môn Dao cắt: Được tách ra từ tổ Dao cắt thuộc bộ môn Chế tạo máy, ban đầu chỉ có 02 giảng viên phụ trách chuyên môn môn học Dao cắt giảng dạy cho sinh viên ngành Cơ khí.

- Bộ môn Công nghệ chế tạo máy: Được tách ra từ tổ Công nghệ thuộc Bộ môn Chế tạo máy, phụ trách chuyên môn các môn học Công nghệ chế tạo máy, Dung sai… giảng dạy cho sinh viên ngành Cơ khí.

- Bộ môn Kinh tế và Tổ chức sản xuất: Được thành lập mới, phụ trách chuyên môn và giảng dạy môn học Kinh tế và Tổ chức sản xuất, tham gia hướng dẫn Đồ án tốt nghiệp cho sinh viên ngành Cơ khí và ngành Điện khí hóa của trường.

Đến giai đoạn này, do ngành thép trong nước gặp nhiều khó khăn, phần lớn các thầy cô giảng dạy các chuyên ngành Luyện kim, Cán thép chuyển công tác nên Nhà trường đã dừng đào tạo các chuyên ngành này. Bộ môn Cơ khí Luyện kim giải thể, các thầy cô giáo ở lại được phân công về các bộ môn khác tiếp tục giảng dạy theo yêu cầu của Nhà trường (Thầy Phạm Thập về Bộ môn Hình họa – Vẽ kỹ thuật; Thầy Trần Thọ về Bộ môn Nguyên lý-Chi tiết máy, Thầy Trần Đức Hậu về công tác tại Xưởng Cơ khí (Sau này thuộc Trung tâm thực nghiệm).

Trong giai đoạn này, đảng viên trong Chi bộ khoa Cơ khí sinh hoạt trong Liên chi Đảng bộ (tiền thân của Chi bộ khoa Cơ khí ngày nay) trực thuộc Đảng bộ trường. Bí thư Chi bộ Khoa trong giai đoạn đầu tiên này gồm các Thầy Nguyễn Quang Cần, Thầy Ngô Thụ, Thầy Trần Thọ. Các thầy cô đảm nhiệm chức vụ Bí thư Liên Chi đảng bộ giai đoạn đầu tiên là các Thầy Dương Đình Giáp, Thầy Trương Xuân Bảo, Thầy Võ Xuân Quang. Số lượng Đảng viên trong khoa Cơ khí sinh hoạt trong Liên Chi đảng bộ không nhiều, chỉ dao động trong khoảng từ 7 đến 10 đảng viên. Tuy nhiên, Liên chi đảng bộ vẫn lãnh đạo mọi mặt hoạt động của khoa, thực hiện tốt việc sơ tán, xây dựng trường lớp, giảng dạy và học tập của cả giảng viên và sinh viên.

Tổ chức Công đoàn khoa Cơ khí cũng được thành lập trong giai đoạn này cùng với sự thành lập của chính quyền khoa Cơ khí. Các Thầy Nguyễn Công Tâm, Thầy Trần Phi Đính, Thầy Hoàng Đức Phi là những Chủ tịch đầu tiên của Công đoàn khoa Cơ khí.

Thời điểm thành lập Khoa năm 1972, cơ cấu tổ chức của Khoa gồm có:

- Chi bộ Khoa:

+ Bí thư chi bộ: Thầy Trương Xuân Bảo. 

- Ban chủ nhiệm khoa:

+ Trưởng khoa: Thầy Dương Đình Giáp (1972 – 1975);

+ Phó trưởng khoa: Thầy Nguyễn Hữu Tơng (1972 – 1978), Thầy Trương Xuân Bảo (1972 – 1975);

- Công Đoàn khoa Cơ Khí;

- Liên chi đoàn khoa Cơ khí;

- Tổ Văn phòng khoa;

- Khoa có 11 Bộ môn (gồm cả các bộ môn cở sở và chuyên môn), gồm:

  1. Bộ môn Hình họa – Vẽ kỹ thuật,
  2. Bộ môn Thủy lực,
  3. Bộ môn Nguyên lý máy,
  4. Bộ môn Chi tiết máy,
  5. Bộ môn Sức bền vật liệu,
  6. Bộ môn Kim loại học,
  7. Bộ môn Công nghệ kim loại,
  8. Bộ môn Máy cắt,
  9. Bộ môn Dao cắt,
  10. Bộ môn Công nghệ chế tạo máy,
  11. Bộ môn Kinh tế và Tổ chức sản xuất.

Trong giai đoạn này, khoa Cơ khí có nhiệm vụ đào tạo 01 ngành duy nhất là Cơ khí chế tạo máy hệ đại học chính quy.

Từ đầu năm 1972, hàng trăm lượt giảng viên và sinh viên các khóa K4, K5, K6, K7 xung phong lên đường nhập ngũ đi miền Nam chiến đấu. Ban đầu, lứa nhập ngũ này tham gia tiểu đoàn 69, F304B, đóng quân tại Xã Thanh Ninh, Huyện Phú Bình, Thái Nguyên, sau đó đi chiến trường B ở tiểu đoàn 1040, C2 (Đại đội Cơ điện).

Vừa mới thành lập được một thời gian ngắn, khoa Cơ khí và Nhà trường đã cùng với cả nước chống lại cuộc chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ. Bị thua đau ở chiến trường miền Nam, giặc Mỹ điên cuồng bắn phá miền Bắc mà đỉnh điểm là cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ vào thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Phòng và Khu Gang thép Thái Nguyên. Để duy trì việc dạy và học và đảm bảo an toàn cho thầy và trò, ngày 18/12/1972, khoa Cơ khí đã sơ tán vào xóm Bá Vân và xóm Bình Định thuộc xã Bình Sơn, Thị xã Sông Công; xóm Đầu Trâu thuộc xã Thịnh Đức, Thành phố Thái Nguyên. Vào thời gian này, giảng đường và phòng thí nghiệm chỉ là những căn nhà lá nằm sâu trong địa đạo, khe núi, đói rét thường xuyên rình rập nhưng thầy và trò vẫn “Tiếng hát át tiếng bom; Vai kề vai, đèn sách sớm hôm”. Các lớp sinh viên khóa K2, K3, K4, K5 vẫn tốt nghiệp ra trường đúng tiến độ và đảm bảo chất lượng.

 

Khung cảnh xây dựng trường tại nơi sơ tán.

Ngày 27/3/1973, sau khi hiệp định Pari về việc lập lại hoà bình Việt Nam được ký kết, thầy trò khoa Cơ khí lại trở về xây dựng mái trường trên mảnh đất thân yêu của mình. Sinh viên K8, K9 tựu trường được sống và học tập trong những khu nhà tầng kiên cố A1, A2, A3 (nay là A6, A7, A8…) và thực hành thí nghiệm trong khu nhà C1, C2, C3 chan hòa ánh điện, rộn vang tiếng máy. Phong trào giảng dạy, học tập sôi nổi hơn lúc nào hết. Công tác Nghiên cứu khoa học bắt đầu phát triển song hành cùng công tác giảng dạy. Những sản phẩm khoa học đầu tiên đã mang đậm chất khoa học của khoa, chẳng hạn đề tài Nghiên cứu chế tạo phong điện của nhóm tác giả Nguyễn Hữu Hùng (Bộ môn Vật lý), Trịnh Quang Vinh, Trần Văn Lầm (Bộ môn Nguyên lý máy), Ngô Quang Vinh (Bộ môn Sức bền vật liệu); Đề tài Nghiên cứu chế tạo màng mỏng CDS làm đèn quang điện của nhóm tác giảNguyễn Thư Xá, Phạm Phú Thùy, Nguyễn Công Hòa, Nguyễn Thị Vân (Bộ môn Vật lý) đã chế tạo thành công đèn biển lắp tại vùng biển đảo Long Châu, TP. Hải Phòng theo đặt hàng của Bộ Giao thông Vận tải, phục vụ kịp thời cho sự nghiệp bảo vệ vùng biển của Tổ quốc trong những ngày chiến tranh ác liệt.

Tin mới hơn

Tin cũ hơn

Tin xem nhiều