LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA CƠ KHÍ

Đăng ngày: 08-07-2015; 878 lần đọc

Khắc phục khó khăn và phát triển;

4. Giai đoạn 1980 – 1993

Năm 1982, với chủ trương xây dựng một trung tâm đào tạo đa cấp, đa ngành, trường Trung học Công nghiệp miền núi được sáp nhập vào trường ta. Trường mang tên mới là trường Đại học Công nghiệp Thái Nguyên, theo Nghị định số 332/HĐBT ngày 18/12/1982 của Hội đồng Bộ trưmởng.

Từ đây, ngoài hệ Đại học, Cao đẳng truyền thống, khoa Cơ khí còn tham gia đào tạo hệ Trung cấp chuyên nghiệp ngành Cơ khí được cho các họ sinh được chuyển xuống từ trường Trung học Công nghiệp Miền núi. Cơ cấu tổ chức của khoa về mặt chính quyền có một số thay đổi. Bộ môn Nguyên lý máy và Bộ môn Chi tiết máy được sáp nhập thành Bộ môn Nguyên lý – Chi tiết máy vào năm 1985. Năm 1987 nhà trường thành lập Phòng thí nghiệm Chế thử thuộc khoa Cơ khí. Năm 1993, do yêu cầu của tình hình mới cũng như xu hướng ngành nghề, Bộ môn Kinh tế và Tổ chức sản xuất được tách khỏi khoa Cơ khí để thành lập Ban Kinh tế trực thuộc Ban giám hiệu.

Đây là giai đoạn nền kinh tế nước ta sau 2 cuộc chiến tranh đã rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, đời sống thầy và trò gặp nhiều khó khăn, thiếu từ giấy, mực, vải mặc đến cả lương thực, thực phẩm. Điển hình là năm 1983 do quá khó khăn, lương thực không đủ cho sinh viên nên trường đã phải dừng tuyển sinh K18, cán bộ phòng ban phải thay nhau nghỉ để tăng gia sản xuất tự túc lương thực. Sinh viên phải nghỉ tự túc lương thực hai tháng. Thêm vào đó, khoa Cơ khí phải đối mặt với một khó khăn không nhỏ là lượng sinh viên thi vào khoa rất ít. Sở dĩ như vậy vì nhiều nhà máy cơ khí phải đóng cửa do không có việc làm, nên ít có nhu cầu tuyển dụng kĩ sư cơ khí. Vì vậy trong suốt 14 năm, mỗi khóa sinh viên khoa Cơ khí chỉ tuyển được từ 100 đến 300 sinh viên và học sinh (kể cả hệ trung cấp và Cao đẳng). Đặc biệt, cả khóa tuyển sinh năm 1988, khóa K24M chỉ tuyển được 28 sinh viên. Khoa chỉ còn 32 cán bộ, giảng viên. Do đời sống gặp quá nhiều khó khăn, một số thầy cô có gia đình ở xa đành phải ngậm ngùi chia tay với mái trường về công tác gần quê, mà trong thâm tâm chẳng muốn.

Xuất phát từ những khó khăn đó, ngay sau năm 1979 rất nhiều giảng viên của khoa ngoài việc hoàn thành trọng trách của một người thầy đã liên hệ với các cơ sở sản xuất thực tế tìm việc làm về cho khoa, chẳng hạn như: Kéo đường dây truyền thanh tại Huyện Bình Gia, Lạng Sơn (Thầy Hoàng Thắng Lợi, Thầy Nguyễn Trọng Khanh, Thầy Mai Thanh Uông, Thầy Nguyễn Hữu Vĩnh); Sửa chữa máy phát điện; Sửa chữa các thiết bị Cơ khí cho trường ĐH Nông Nghiệp 3 (nay là ĐH Nông Lâm Thái Nguyên); Lắp đặt các máy phát điện nhỏ (Huyện Chợ Rã, Bắc Kạn)…

Cũng chính vào thời gian này, dưới ánh sáng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã mở ra con đường đổi mới: “Muốn cứu nước trước hết phải tự cứu lấy mình”. Cũng vào những ngày này, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Nhà trường, trực tiếp là chi bộ Khoa, các giảng viên khoa Cơ khí đã đẩy mạnh công tác NCKH & LĐSX, thành lập Phòng thí nghiệm chế thử (PTNCT) để thực hành, thí nghiệm, NCKH&CGCN. PTNCT cũng là nơi rèn luyện khả năng thực tiễn của đội ngũ giảng viên, là nơi thực hiện các hợp đồng kinh tế – kỹ thuật giữa Nhà trường và các doanh nghiệp. Chỉ trong vòng 6 năm (1987 – 1993), khoảng 60% giảng viên của khoa đã được thực hành công nghệ cơ khí tại PTNCT, trực tiếp chế tạo ra sản phẩm cơ khí phục vụ sản xuất, đời sống giảng viên đã được cải thiện đáng kể.

Một góc PTN chế thử khoa Cơ khí (giai đoạn 1987 – 1993)

Một số đề tài nghiên cứu chuyển giao công nghệ đã được thực hiện, chẳng hạn như Chế tạo bi xe cải tiến cho nhà máy Cơ khí 3-2 Bắc TháiChế tạo dây chuyền tinh lọc bột sắn cho huyện Phú LươngChế tạo khung xe đạp cho nhà máy cơ khí Tuyên Quang. Đặc biệt điển hình là đề tài Nghiên cứu chế tạo bộ chày cối dập thuốc viên cho ngành Dược Việt NamChế tạo lô nghiền bột giấy cho công ty Giấy Bãi Bằng đã trở nên nổi tiếng cả nước, tạo thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp thúc đẩy ngành công nghiệp Dược, công nghiệp Giấy nước ta phát triển. Cũng từ những đề tài gắn liền với thực tiễn sản xuất và PTNCT mà hàng loạt các xưởng sản xuất đã ra đời gắn liền với tên tuổi của các Thầy, Cô giáo trong khoa như: Thầy Vũ Quý Đạc, Thầy Vũ Ngọc Pi, Thầy Nguyễn Văn Dự (Bộ môn Nguyên lý – Chi tiết máy); Thầy Trần Hữu Đà, Thầy Nguyễn Văn Hùng, Thầy Cao Thanh Long (Bộ môn Cắt kim loại); Thầy Phạm Đức Hiểu, Thầy Trần Vệ Quốc, Thầy Hoàng Vị (Bộ môn Máy cắt kim loại); Thầy Trần Minh Đức, Thầy Lê Viết Bảo, Thầy Ngô Cường (Bộ môn Công nghệ Chế tạo máy); Thầy Nguyễn Đình Mãn (Bộ môn Hình Họa – Vẽ kỹ thuật); Thầy Bùi Chính Nghĩa, Thầy Phạm Trung Chính (Bộ môn Kim loại học)…

Qua hoạt động KHCN, lý thuyết đã được gắn với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội. Bên cạnh đó, phong trào ²Tất cả vì học sinh thân yêu² sôi sục trong cả nước ở giai đoạn này đã thôi thúc các thầy giáo, cô giáo của khoa nói riêng (điển hình là Thầy Hoàng Thắng Lợi – Bộ môn Sức bền vật liệu) và nhà trường nói chung hết lòng đào tạo các thế hệ sinh viên đức, tài toàn vẹn. Những sản phẩm về KHCN trên, cùng với sản phẩm về đào tạo là lớp kỹ sư chúng ta đào tạo ra (K16 – K24), đáp ứng tốt được yêu cầu của xã hội, góp phần khẳng định thương hiệu Đại học Cơ điện – ĐHKTCN Thái Nguyên trên mảnh đất thân yêu của Tổ quốc Việt Nam. Điều này khẳng định: Mặc dù đời sống còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhưng thầy trò quyết tâm, lại có sự quan tâm chỉ đạo sát sao của lãnh đạo khoa, sự quan tâm thường xuyên của lãnh đạo Nhà trường và phương châm đào tạo đúng; vẫn có thể cho chất lượng đào tạo tốt.

Bên cạnh đó, các phong trào bồi dưỡng tài năng sinh viên cũng bắt đầu được các thầy giáo, cô giáo của khoa quan tâm. Năm 1991 là mốc đánh dấu năm đầu tiên trường ta có sinh viên tham gia kỳ thi Olympic Cơ học toàn quốc. Từ đó đến nay, phong trào này luôn luôn được các giảng viên, các bộ môn và khoa quan tâm và đã đem về nhiều thành tích vẻ vang cho khoa và nhà trường.

Cũng trong giai đoạn này, có sự nhảy vọt về số lượng đảng viên là các sinh viên chuyên tu tham gia sinh hoạt tại Chi bộ khoa. Có thời điểm, số lượng Đảng viên khoa Cơ khí lên đến gần 200. Trước tình hình đó, năm 1981 Đảng bộ trường đã thành lập Đảng bộ Bộ phận khoa Cơ khí. Bí thư Đảng ủy Bộ phận khoa trong giai đoạn này là các Thầy Võ Xuân Quang, Thầy Lê Cao Thăng, Thầy Nguyễn Trọng Khanh. Các Đảng ủy viên gồm các Thầy Nguyễn Hữu Tơng, Thầy Ngô Thụ, Thầy Trần Thọ, Thầy Phạm Dương, Thầy Hoàng Thắng Lợi, Thầy Trần Hữu Đà, Thầy Phạm Đức Ngọc. Đến năm 1987, số lượng đảng viên trong khoa Cơ khí giảng do số đảng viên sinh viên hệ chuyên tu giảm hẳn. Do vậy, Đảng bộ trường thành lập Chi bộ khoa Cơ khí như ngày nay.

Hội nghị bầu Trưởng khoa Cơ khí nhiệm kỳ 1990 – 1993.

Hình ảnh Thầy và Trò khoa Cơ khí tham dự kỳ thi Olympic Cơ học toàn quốc năm 1991.

- Thầy Lê Lương Tài, Thầy Nguyễn Văn Tuấn, Thầy Nguyễn Hoàng Nghị (lần lượt từ thứ 4, thứ 7 và thứ 8 tính từ trái qua).

- SV Cao Xuân Tuyển K24I (thứ 1 từ trái qua, hiện nay là GV khoa Điện);

- SV Đỗ Khắc Đức K22M (thứ 2 từ trái qua, từ năm 1992 – 2013 là GV khoa Cơ khí, hiện nay là GV khoa Quốc tế);

- SV Trần Công Nghiệp K22M (thứ 3 từ trái qua, từ năm 1992 – 1993 là giảng viên khoa Cơ khí, từ 1993 – 2003 là giảng viên khoa Kinh tế, hiện nay là giảng viên Trường ĐH KT và QTKD, ĐH  Thái Nguyên).

Cơ cấu tổ chức của khoa Cơ khí trong giai đoạn này được tóm tắt như sau:

- Đảng ủy Bộ phận khoa Cơ khí (giai đoạn 1981 – 1987):

+ Bí thư: Thầy Võ Xuân Quang, Thầy Lê Cao Thăng, Thầy Nguyễn Trọng Khanh;

+ Ủy viên Đảng ủy Bộ phận khoa: Thầy Nguyễn Hữu Tơng, Thầy Ngô Thụ, Thầy Trần Thọ, Thầy Phạm Dương, Thầy Hoàng Thắng Lợi, Thầy Trần Hữu Đà, Thầy Phạm Đức Ngọc.

- Chi bộ khoa Cơ khí (giai đoạn 1980 – 1987 và 1987 – 1993):

+ Bí thư Chi bộ khoa Cơ khí: Thầy Ngô Thụ, Thầy Nguyễn Trọng Khanh, Thầy Trần Thọ, Thầy Trần Hữu Đà, Thầy Trần Vệ Quốc.

- Ban chủ nhiệm khoa:

+ Trưởng khoa: Thầy Trần Thọ (1978 – 1986); Thầy Trần Hữu Đà (1986 – 1989), Thầy Lê Cao Thăng (1989 – 1990), Thầy Vũ Quý Đạc (1990 – 1995).

+ Phó trưởng khoa: Thầy Trần Hữu Đà (1978 – 1983); Thầy Võ Xuân Quang (1978 – 1986, 1990 – 1995), Thầy Nguyễn Huy Hiển (1980 – 1983), Thầy Trịnh Quang Vinh (1983 – 1986), Thầy Nguyễn Trọng Khanh (1986 – 1990), Thầy Phạm Đức Ngọc (1986 – 1990), Thầy Vũ Ngọc Pi (1990 – 1997).

- Tổ Văn phòng khoa;

- 09 Bộ môn (gồm cả các bộ môn cở sở và chuyên môn) và 01 PTN Chế thử, gồm:

1. Bộ môn Hình họa – VKT,

2. Bộ môn Thủy lực,

3. Bộ môn Nguyên lý – Chi tiết máy,

4. Bộ môn Sức bền vật liệu,

5. Bộ môn Kim loại học,

6. Bộ môn Công nghệ kim loại,

7. Bộ môn Công nghệ chế tạo máy,

8. Bộ môn Máy cắt,

9. Bộ môn Cắt kim loại,

10. Phòng Thí nghiệm Chế thử (giải thể năm 1993).

- Liên chi đoàn khoa Cơ khí:


Hình ảnh Đại hội Đại biểu Liên chi Đoàn khoa Cơ khí (nhiệm kỳ 1993 – 1994)

Trong giai đoạn này, khoa Cơ khí đào tạo Đại học 01 ngành duy nhất là Cơ khí chế tạo máy cho các hệ Chính quy dài hạn, hệ Chuyên tu và hệ Tại chức (nay là hệ Vừa làm vừa học). Ngoài ra, khoa ta còn chủ trì đào tạo hệ Cao đẳng ngành Cơ khí chế tạo máy và hệ Trung cấp Cơ khí chế tạo máy.

Tin mới hơn

Tin cũ hơn

Tin xem nhiều