LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA CƠ KHÍ

Đăng ngày: 08-07-2015; 1380 lần đọc

Phát triển trong đại học vùng;

5. Giai đoạn 1994 – 2007:

Năm 1994, với sự ra đời của đại học vùng - Đại học Thái Nguyên theo Nghị định 31/CP/1994 của Chính phủ, Đại học Công nghiệp Thái Nguyên trở thành một thành viên của Đại học Thái Nguyên và mang tên Đại học Kỹ thuật Công Nghiệp – Đại học Thái Nguyên.

Có thể nói đây là giai đoạn phát triển vươn lên vượt bậc của Khoa Cơ khí nói riêng và của trường ĐHKTCN nói chung. Khoa Cơ khí- Trường ĐHKTCN đã trở thành một trong 3 trung tâm lớn của cả nước về đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật Cơ khí có trình độ cao của cả nước sau Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh.

Đây là giai đoạn khoa Cơ khí đã có những cố gắng vượt bậc trên tất cả các mặt, từ xây dựng đội ngũ, xây dựng cơ sở vật chất đến đổi mới nội dung chương trình đào tạo, từng bước đổi mới cách dạy, cách học theo phương thức học chế tín chỉ – một phương thức đào tạo tiên tiến lấy người học làm trung tâm. Chất lượng đào tạo ngày một nâng lên. Chính vì vậy sinh viên ra trường về cơ bản có việc làm và làm đúng nghề nghiệp.

Năm 1994, do nhu cầu cán bộ kỹ thuật phục vụ khu Gang Thép Thái Nguyên, Trường ta mở lại ngành Cơ khí Luyện kim và đào tạo thêm ngành Cán thép, do vậy Bộ môn Cơ khí Luyện kim – Cán thép được thành lập (Thầy Trần Thọ làm Trưởng Bộ môn).

Cùng năm này, khoa Khoa học Cơ bản của trường được điều chuyển để thành lập trường Đại học Đại cương, do vậy, Bộ môn Cơ lý thuyết được điều chuyển về khoa Cơ khí, ghép với bộ môn Thủy lực thành Bộ môn Cơ họcBộ môn Cắt kim loại được nhà trường đổi tên thành Bộ môn Nguyên lý – Dụng cụ cắt. Cũng trong giai đoạn này, Bộ môn Công nghệ kim loại được nhà trường đổi tên thành Bộ môn Kỹ thuật Chế tạo máy vào năm 1995. Năm 1996, nhà trường thành lập Bộ môn Cơ học vật rắntrên cơ sở sáp nhập Tổ Cơ lý thuyết của bộ môn Cơ học với Bộ môn Sức bền vật liệu. Cùng trong năm 1996, Bộ môn Vật liệu học – Thủy lực trực thuộc khoa Cơ khí được thành lập trên cơ sở sáp nhập Bộ môn Kim loại học và Tổ Thủy lực. Đến năm 1998, Bộ môn Máy cắt được nhà trường đổi tên thành Bộ môn Máy và Tự động hóa. Từ thời điểm này, ngoài các kiến thức chuyên môn về máy cắt, Bộ môn Máy và Tự động hóa đảm trách thêm các môn học CAD/CAM/CNC giảng dạy cho chuyên ngành Cơ khí chế tạo máy.

Hội trại Kỷ niệm 35 năm thành lập trường (06/12/1965 – 06/12/2000)

Sinh viên khoa Cơ khí tham quan nhà máy Thép Việt Ý (tháng 5/2002)

Năm 2004, để đáp ứng yêu cầu đào tạo, Nhà trường thành lập Bộ môn Kỹ thuật vật liệu, thành lập trên cơ sở tổ Vật liệu học (trước đây là Kim loại học). Cũng trong năm này, Bộ môn Nguyên lý – Dụng cụ cắt được nhà trường đổi tên thành Bộ môn Dụng cụ cắt Vật liệu kỹ thuật. Phòng thí nghiệm khoa Cơ khí được tái thành lập năm 2004 phục vụ nhu cầu đào tạo ngày càng đòi hỏi cao của thị trường lao động về mảng Tự động hóa thiết kế và đào tạo sử dụng các phần mềm ứng dụng trong lĩnh vực Cơ khí chế tạo. Cuối năm 2004 đầu năm 2005, Bộ môn Nguyên lý – Chi tiết máy được nhà trường quyết định đổi tên là Bộ môn Cơ sở Thiết kế máy. Cùng năm này, do yêu cầu mới về tổ chức cán bộ và đào tạo, Bộ môn Cơ học vật rắn được giải thể. Nhà trường thành lập Bộ môn Cơ học vật liệu trên cơ sở tổ Sức bền vật liệu trước đây. Bộ môn Cơ học và Kỹ thuật môi trường được thành lập (năm 2006) trên cơ sở tổ Cơ lý thuyết, các giảng viên chuyên ngành Kỹ thuật môi trường, Kỹ thuật Xây dựng Công trình mới được tuyển dụng về trường (tách ra từ Bộ môn Cơ học vật rắn) và tổ Thủy lực (được tách ra từ bộ môn Vật liệu học – Thủy lực).

Đến năm 2006, do yêu cầu về tổ chức và đào tạo nên Bộ môn Cơ học và Kỹ thuật môi trường được giải thể; các giảng viên thuộc tổ Cơ lý thuyết và tổ Kỹ thuật môi trường được điều chuyển sang các đơn vị mới. Tổ Cơ lý thuyết được điều chuyển sang khoa Khoa học Cơ bản (được tái thành lập ở trường) và được mang tên Bộ môn Cơ học. Tổ Kỹ thuật môi trường được điều chuyển sang khoa Quản lý Công nghiệp và Môi trường và được mang tên Bộ môn Kỹ thuật Xây dựng và Bộ môn Kỹ thuật môi trường. Riêng tổ Thủy lực được nâng cấp thành Bộ môn Kỹ thuật thủy khí thuộc khoa Cơ khí. Bên cạnh đó, với xu thế phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật trên thế giới, nhằm theo kịp thời đại cũng như đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội về nguồn nhân lực kỹ thuật, năm 2006 Bộ môn Cơ điện tử thuộc khoa Cơ khí đã được thành lập.

Như vậy, về cơ cấu tổ chức khoa Cơ khí trong giai đoạn này gồm:

- Chi bộ khoa Cơ khí:

+ Bí thư: Thầy Trần Vệ Quốc, Thầy Vũ Quý Đạc.

- Ban chủ nhiệm khoa:

+ Trưởng khoa: Thầy Vũ Quý Đạc (1990 – 1995), Thầy Trần Vệ Quốc (1995 – 2002, 2002 – 2003)

+ Phó trưởng khoa: Thầy Vũ Ngọc Pi (1990 – 1997, 1997 – 2002), Thầy Đặng Ngọc Trúc (1995 – 1997), Thầy Vũ Quý Đạc (1997 – 2002, 2002 – 2003), Thầy Nguyễn Đình Mãn (2002 – 2005), Thầy Trần Minh Đức (2003 – 2005), Thầy Bùi Ngọc Trân (2005 – 2007), Thầy Lê Viết Bảo (2005 – 2008), Thầy Hoàng Vị (2007 – 2011).

- Tổ Văn phòng khoa;

 

Tổ văn phòng khoa Cơ khí (Ảnh chụp năm 2007).

- 11 Bộ môn (gồm cả các bộ môn cở sở và chuyên môn) và 01 Phòng thí nghiệm, cụ thể là:

+ Bộ môn Hình họa – VKT:

Tập thể giảng viên Bộ môn Hình họa – Vẽ Kỹ thuật (Ảnh chụp năm 2004).

+ Bộ môn Cơ học vật liệu (được tách ra từ tổ Sức bền vật liệu của Bộ môn Cơ học vật rắn):

Tập thể giảng viên Bộ môn Cơ học vật liệu (Ảnh chụp năm 2007).

+ Bộ môn Cơ sở thiết kế máy (được đổi tên từ Bộ môn Nguyên lý – Chi tiết máy):

Tập thể giảng viên Bộ môn Cơ sở thiết kế máy (Ảnh chụp năm 2007).

+ Bộ môn Kỹ thuật vật liệu (được tách ra từ tổ Vật liệu học của Bộ môn Vật liệu học – Thủy lực):

Tập thể giảng viên Bộ môn Kỹ thuật vật liệu (Ảnh chụp năm 2007).

+ Bộ môn Kỹ thuật Chế tạo máy (được đổi tên từ Bộ môn Công nghệ kim loại):

Tập thể giảng viên Bộ môn Kỹ thuật Chế tạo máy (Ảnh chụp năm 2004).

+ Bộ môn Cơ khí Luyện kim – Cán thép:

Tập thể giảng viên Bộ môn Cơ khí Luyện kim – Cán thép chụp ảnh cùng thầy Phạm Gia Khiêm, Nguyên giảng viên của bộ môn, Nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ
 (Ảnh chụp năm 2004).

+ Bộ môn Công nghệ chế tạo máy:

Tập thể giảng viên Bộ môn Công nghệ chế tạo máy (Ảnh chụp năm 2007).

+ Bộ môn Máy và Tự động hóa (được đổi tên từ Bộ môn Máy cắt):

Tập thể giảng viên Bộ môn Máy và Tự động hóa (Ảnh chụp năm 2007).

+ Bộ môn Dụng cụ cắt – Vật liệu kỹ thuật (được đổi tên từ Bộ môn Nguyên lý – Dụng cụ cắt):

Tập thể giảng viên Bộ môn Dụng cụ cắt Vật liệu kỹ thuật (Ảnh chụp năm 2007).

+ Bộ môn Kỹ thuật thủy khí (được tách ra từ tổ Thủy lực của Bộ môn Vật liệu học – Thủy lực):

Tập thể giảng viên Bộ môn Kỹ thuật thủy khí (Ảnh chụp năm 2007).

+ Bộ môn Cơ điện tử:

Tập thể giảng viên Bộ môn Cơ điện tử (Ảnh chụp năm 2007).

+ PTN khoa Cơ khí (tái thành lập năm 2004):

Tập thể giảng viên Phòng thí nghiệm khoa Cơ khí (Ảnh chụp năm 2007).

+ Bộ môn Cơ học và Kỹ thuật môi trường (được điều chuyển để thành lập các đơn vị mới trong trường vào năm 2006):

Tập thể giảng viên Bộ môn Cơ học và Kỹ thuật môi trường (Ảnh chụp năm 2004).

- Liên chi đoàn khoa Cơ khí:

- BCH Công đoàn khoa:

+ Chủ tịch: Thầy Nguyễn Mạnh Lân (giai đoạn 1990 – 1995); Thầy Nguyễn Trọng Khanh (giai đoạn 1995 – 2000); Thầy Nguyễn Đình Mãn (2000 – 2005).

Giai đoạn này, khoa Cơ khí đảm nhận nhiệm vụ đào tạo cho bốn hệ: Trung cấp, Cao đẳng, Đại học (Chính quy và Tại chức) và Sau đại học với 3 chuyên ngành là Cơ khí Chế tạo máy, Cơ khí Động lực và Cơ khí Luyện kim – Cán thép. Từ năm học 2005 – 2006, trường Công nhân Kỹ thuật được nâng cấp lên thành trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật (thuộc Đại học Thái Nguyên). Theo yêu cầu mới, hệ Cao đẳng và Trung cấp trường ta chuyển hoàn toàn lên đào tạo tại trường này, do đó số lượng sinh viên của khoa ta giảm đáng kể. Tuy nhiên, giai đoạn này cũng đánh dấu bước tiến vượt bậc về đào tạo hệ Vừa làm vừa học (Tại chức) tại các Cơ sở liên kết ngoài trường (Hải Phòng, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Trường CĐ Công nghiệp Thái Nguyên….). Từ năm học 2006 – 2007, khoa tổ chức đào tạo được 2 khóa Kỹ sư Chất lượng cao chuyên ngành Cơ khí Chế tạo máy (K42 và K43, mỗi khóa một lớp). Bên cạnh đó, hệ đào tạo liên thông tuyển cũng bắt đầu được tuyển sinh, số lượng gia tăng đáng kể theo từng năm học. Mặc dù còn khó khăn, hạn chế về điều kiện cơ sở vật chất, nhưng chất lượng đào tạo vẫn là tiêu chí hàng đầu của khoa và nhà trường. Do vậy, số sinh viên các hệ này đều được xã hội đánh giá cao.

Bắt đầu từ năm 2006 (khóa K42), nhà trường chuyển từ hình thức đào tạo học phần niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ. Từ khóa K42 trở về trước (K40, K41), chương trình được thiết kế lại và chuyển tương đương còn 180 tín chỉ (so với học phần niên chế là 260-270 đơn vị học trình). Từ năm 2007 (tương ứng với khóa K43), chương trình học của sinh viên tiếp tục được thiết kế lại một lần nữa, rút xuống còn 150 tín chỉ. Mặc dù có những thay đổi lớn lao như vậy nhưng bằng sự nỗ lực cố gắng, đồng thuận cao, toàn thể cán bộ giảng viên khoa Cơ khí vẫn triển khai tốt chương trình đào tạo, đảm bảo chất lượng đầu ra cho sinh viên sau khi tốt nghiệp.

Ngoài đội ngũ đào tạo các ngành truyền thống, từ những năm đầu thế kỷ 20 khoa Cơ khí còn được Nhà trường giao nhiệm vụ bồi dưỡng chuyên môn, đào tạo đội ngũ để mở các ngành, chuyên ngành mới theo kế hoạch của nhà trường trên cơ sở nhu cầu thị trường. Những cán bộ đầu tiên của các ngành này tham gia sinh hoạt chuyên môn tại Bộ môn Cơ học vật rắn, sau đó là tại Bộ môn Cơ học – Kỹ thuật môi trường (từ 2004). Các ngành Kỹ thuật Môi trường và Kỹ thuật Công trình Xây dựng bắt đầu được hình thành và xây dựng từ khoa. Kết quả là, từ 2003 – 2005 khoa được giao thêm nhiệm vụ chuẩn bị đào tạo ở bậc Đại học các ngành Kỹ thuật Môi trường và ngành Kỹ thuật Công trình Xây dựng. Sau khi đội ngũ cán bộ, giảng viên của các ngành này lớn mạnh, theo yêu cầu của tổ chức, các tổ này chuyển sang sinh hoạt chuyên môn tại khoa Quản lý Công nghiệp và Kỹ thuật môi trường.

Bên cạnh đào tạo các hệ thuộc trình độ Đại học, Cao đẳng, Trung cấp các ngành truyền thống, sự phát triển vượt bậc của khoa đã được ghi nhận khi khoa tham gia đào tạo sau đại học chuyên ngành Công nghệ Chế tạo máy & chuyên ngành Cơ kỹ thuật; đào tạo Tiến sĩ chuyên ngành Kỹ thuật Máy công cụ và Công nghệ CTM.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng tài năng sinh viên cũng thường xuyên được chăm lo. Khoa đã duy trì được phong trào bồi dưỡng sinh viên thi Olympic Quốc gia về các môn Cơ học. Tại kỳ thi Olympic Cơ học toàn quốc năm 2005, các sinh viên của khoa đã đạt giải Nhất toàn đoàn 4 môn thi Cơ lý thuyết, Sức bền vật liệu, Nguyên lý máy và Chi tiết máy. Trường ĐHKTCN được xếp thứ 6 trong tốp các trường hàng đầu, được Bộ trưởng Bộ GD – ĐT tặng Bằng khen.

Đội tuyển Olympic Cơ học khoa Cơ khí cùng các Thầy giáo, Cô giáo tại Lễ trao giải lần thứ 15 (tháng 5/2003) tại Trường Đại học Kiến trúc, Hà Nội.

Cựu sinh viên khóa 10 về dự kỷ niệm ngày nhập trường (20/10/1974 – 20/10/2004)

Hình ảnh các ĐVTN trong Đội tuyển RoBotcon của Khoa đang gấp rút chuẩn bị cho cuộc thi (tháng 4/2005).

Hình ảnh cựu sinh viên khóa 2 (K2) tổ chức gặp mặt nhân dịp 35 năm thành lập khoa tại Trường trước khu nhà Hiệu bộ (10/2007).

Tập thể cán bộ, giảng viên khoa Cơ khí (Ảnh chụp năm 2007).

Công tác NCKH và CGCN cũng phát triển rất mạnh, mỗi năm bình quân khoa tiến hành từ 6 – 8 đề tài NCKH cấp Bộ và cấp Bộ trọng điểm, tham gia các đề tài cấp Nhà nước và hàng chục đề tài NCKH các cấp khác. Các đề tài đều hướng vào giải quyết những vấn đề cấp bách của sản xuất và tập trung vào đổi mới phương pháp giảng dạy. Công tác chuyển giao công nghệ và LĐSX cũng đạt được những kết quả đáng khích lệ. Nhiều thầy giáo đã trở thành chuyên gia có uy tín cho các doanh nghiệp. Mỗi năm tổng doanh thu các hợp đồng kinh tế thực hiện trong trường khoảng 4 – 5 tỷ đồng góp phần cải thiện đời sống và đóng góp phúc lợi cho Nhà trường. Ngoài ra còn góp phần đáng kể vào công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên. Những sản phẩm cơ khí do các thầy khoa Cơ khí chế tạo đã giữ được uy tín trong các ngành sản xuất thép, giấy, dược phẩm xi măng góp phần khẳng định thương hiệu của Nhà trường. Công tác đào tạo CGCN trong lĩnh vực công nghệ cao CAD-CAM-CNC cũng có bước phát triển tốt. Khoa đã được đầu tư một PTN Công nghệ cao tương  đối hoàn chỉnh và hiện đại, phát huy hiệu quả tích cực cho đào tạo, NCKH và CGCN.

Tin mới hơn

Tin cũ hơn

Tin xem nhiều