LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA CƠ KHÍ

Đăng ngày: 08-07-2015; 1296 lần đọc

Hội nhập và phát triển.

6. Giai đoạn 2007  đến nay (06/2015)

Cựu sinh viên K11 chụp ảnh lưu niệm nhân dịp 45 năm thành lập trường

(Ảnh chụp ngày 06 / 12 / 2010).

Trong giai đoạn này khoa Cơ khí đã tập trung nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, đẩy mạnh sinh hoạt học thuật tại các bộ môn và khoa, góp ý giảng thử, dự giờ cho giảng viên trẻ, động viên giảng viên trẻ đi học tập nâng cao trình độ chuyên môn, học sau đại học, Nghiên cứu sinh trong nước và nước ngoài.

Việc thay đổi chương trình đào tạo từ những năm 2006 – 2007 đã kéo theo việc thay đổi về các ngành, chuyên ngành đào tạo. Giai đoạn này, khoa Cơ khí đào tạo bậc đại học các ngành Kỹ thuật Cơ khí và ngành Kỹ thuật Cơ điện tử. Từ năm 2009 khoa đào tạo thêm ngành Kỹ thuật vật liệu.

- Ngành Kỹ thuật Cơ khí gồm các chuyên ngành:

+ Chuyên ngành Cơ khí chế tạo máy;

+ Chuyên ngành Cơ khí Luyện kim – Cán thép (Đổi thành chuyên ngành Kỹ thuật gia công tạo hình từ năm 2015);

+ Chuyên ngành Cơ khí động lực (Chuyển về khoa Kỹ thuật ô tô và Máy động lực từ 2013);

+ Chuyên ngành Kỹ thuật Cơ khí, đổi tên thành chuyên ngành Thiết kế – Chế tạo cơ khí từ 2014 (bắt đầu đào tạo từ khóa K43);

- Ngành Kỹ thuật Cơ điện tử (bắt đầu đào tạo từ khóa K43).

- Ngành Kỹ thuật Vật liệu (bắt đầu có sinh viên từ khóa K45).

Khoa trực tiếp quản lý và đào tạo 02 chuyên ngành đào tạo Sau đại học là Thạc sỹ Kỹ thuật Cơ khí (trước kia là Công nghệ chế tạo máy) và Thạc sỹ Cơ kỹ thuật; đào tạo 02 chuyên ngành tiến sĩ là Công nghệ chế tạo máy và Kỹ thuật máy công cụ. Đến nay, có hàng trăm thạc sỹ và hàng chục tiến sĩ đã tốt nghiệp.

Từ năm 2007, Nhà trường trở thành một trong số 15 trường Đại học hàng đầu của cả nước được Nhà nước giao nhiệm vụ thực hiện đề án "Đào tạo theo chương trình tiên tiến tại một số trường đại học Việt Nam giai đoạn 2008 – 2015”. Một số thầy cô giáo của khoa được giao nhiệm vụ tham gia giảng dạy các học phần bằng tiếng Anh cho Chương trình tiên tiến ngành Kỹ thuật Cơ khí, nhập khẩu từ Đại học bang New York tại Buffalo, Hoa Kỳ.

Năm 2008, Nhà trường sắp xếp lại tổ chức các bộ môn theo hướng mỗi bộ môn quản lý một chuyên ngành hoặc một ngành đào tạo chuyên môn. Vì vậy, cơ cấu các bộ môn trong khoa đã có sự thay đổi đáng kể. Các bộ môn chuyên giảng dạy các học phần cơ sở không còn, các bộ môn này được sáp nhập với các bộ môn khác tạo thành các bộ môn chuyên môn theo đúng nghĩa. Cụ thể là:

Tập thể giảng viên Bộ môn Thiết kế Cơ khí (Ảnh chụp năm 2012).

Bộ môn Kỹ thuật Cơ khí (từ năm 2014 được đổi tên là Thiết kế Cơ khí) được hình thành trên cơ sở sáp nhập các Bộ môn: Cơ sở thiết kế máy, Cơ học vật liệu, Hình họa – Vẽ kỹ thuật. Bộ môn Thiết kế Cơ khí quản lý chuyên môn chuyên ngành Thiết kế – Chế tạo. Tại thời điểm được thành lập (năm 2008), toàn thể giảng viên của Bộ môn Kỹ thuật Cơ khí là 29 người (cả giảng viên cơ hữu và kiêm nhiệm).

Bộ môn Chế tạo máy được hình thành trên cơ sở sáp nhập các Bộ môn: Công nghệ chế tạo máy, Máy và Tự động hóa, Dụng cụ cắt vật liệu kỹ thuật. Bộ môn Chế tạo máy quản lý chuyên môn chuyên ngành Cơ khí Chế tạo máy. Tại thời điểm thành lập (năm 2008), toàn thể giảng viên của Bộ môn Chế tạo máy là 31 người (cả giảng viên cơ hữu và kiêm nhiệm).

Tập thể giảng viên Bộ môn Chế tạo máy (Ảnh chụp năm 2012).

Bộ môn Công nghệ vật liệu được hình thành trên cơ sở sáp nhập các Bộ môn: Kỹ thuật vật liệu, Kỹ thuật Chế tạo máy và Cơ khí Luyện kim – Cán thép. Bộ môn Công nghệ vật liệu quản lý chuyên môn chuyên ngành Cơ khí Luyện kim – Cán thép và ngành Kỹ thuật vật liệu. Tại thời điểm thành lập (năm 2008), toàn thể giảng viên của Bộ môn Công nghệ vật liệu là 17 người (cả giảng viên cơ hữu và kiêm nhiệm).

Bộ môn Cơ điện tử được thành lập năm 2006, có nhiệm vụ quản lý chuyên môn và giảng dạy các học phần chuyên ngành của ngành Kỹ thuật Cơ điện tử. Số lượng cán bộ giảng viên Bộ môn Cơ điện tử năm 2008 (cả cơ hữu và kiêm nhiệm) là 05 người.

Bộ môn Động lực được hình thành trên cơ sở sáp nhập các bộ môn của Ban Động lực và chuyển giao về khoa Cơ khí. Bộ môn Động lực quản lý các môn học chuyên môn chuyên ngành Cơ khí Động lực. Tại thời điểm năm 2008, số lượng cán bộ giảng viên (cả cơ hữu và kiêm nhiệm) của Bộ môn Động lực là 10 người.

Tập thể giảng viên Bộ môn Công nghệ vật liệu (Ảnh chụp năm 2012).

Tập thể giảng viên Bộ môn Cơ điện tử (Ảnh chụp năm 2012).

Tập thể giảng viên Bộ môn Động lực (Ảnh chụp năm 2012).

Bên cạnh đó, Bộ môn Kỹ thuật thủy khí (thuộc khoa Cơ khí) và tổ Kỹ thuật nhiệt (thuộc khoa Điện) được điều chuyển và ghép vào Bộ môn Cơ học thuộc khoa Khoa học Cơ bản.

Tổ văn phòng khoa (Ảnh chụp năm 2012).

Tập thể giảng viên Bộ môn Cơ học (Ảnh chụp năm 2012).

Tập thể giảng viên Bộ môn Kỹ thuật Cơ khí giảng dạy bằng tiếng Anh

(Ảnh chụp năm 2012).

Từ năm 2011, theo yêu cầu về sắp xếp nhân sự trong trường, Bộ môn Cơ học (thuộc khoa Khoa học Cơ bản) chuyển về sinh hoạt chuyên môn tại khoa Cơ khí. Tính từ đó đến nay, Bộ môn Cơ học là bộ môn duy nhất của khoa chỉ tham gia giảng dạy các học phần cơ sở cho Khoa và Nhà trường.

Năm 2012, theo yêu cầu đào tạo của Chương trình Kỹ thuật Cơ khí nhập khẩu từ Hoa Kỳ, Nhà trường đã thành lập thêm Bộ môn Kỹ thuật Cơ khí giảng dạy bằng tiếng Anh thuộc khoa Cơ khí. Bộ môn Kỹ thuật Cơ khí giảng dạy bằng tiếng Anh có nhiệm vụ quản lý chuyên môn các học phần của chương trình tiên tiến ngành Kỹ thuật Cơ khí giảng dạy bằng tiếng Anh.

Đến năm 2013, đáp ứng nhu cầu phát triển, Bộ môn Động lực được tách ra thành Bộ môn Kỹ thuật Ô tô và Máy động lực trực thuộc Ban Giám hiệu (từ năm 2014 trở thành khoa Kỹ thuật Ô tô và Máy động lực). Bộ môn này vẫn quản lý chuyên môn chuyên ngành Cơ khí Động lực (thuộc ngành Kỹ thuật Cơ khí). Cùng thời điểm này, khoa Quốc tế được thành lập nhằm thực hiện sứ mệnh là Khoa mũi nhọn của Nhà trường trong việc triển khai và phát triển các chương trình đào tạo đại học và Sau đại học giảng dạy bằng tiếng Anh, thúc đẩy hội nhập quốc tế góp phần đưa trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên trở thành trường Đại học đạt chuẩn đào tạo và NCKH khu vực và quốc tế. Theo yêu cầu đó, Bộ môn Kỹ thuật Cơ khí giảng dạy bằng tiếng Anh cùng với toàn bộ giảng viên và cơ sở vật chất được điều chuyển sang khoa Quốc tế.

Năm 2014, Bộ môn Kỹ thuật Ô tô và Máy động lực được nâng cấp thành khoa Kỹ thuật Ô tô và Máy động lực với 03 bộ môn. Theo yêu cầu mới về sắp xếp nhân sự cũng như mô hình đào tạo, giảng viên tổ Nhiệt kỹ thuật và tổ Kỹ thuật thủy khí (thuộc Bộ môn Cơ học) được điều chuyển sang khoa Kỹ thuật Ô tô và Máy động lực.

Tháng 5/2015, nhằm tạo môi trường mới để phát triển ngành kỹ thuật Cơ điện tử, Nhà trường điều chuyển Bộ môn Cơ điện tử sang khoa Điện tử.

Như vậy, cơ cấu tổ chức khoa trong giai đoạn này (tính từ năm 2008 đến tháng 6/2015) như sau:

- Chi bộ khoa Cơ khí:

+ Bí thư: Thầy Vũ Quý Đạc (2003 – 2009), Thầy Vũ Ngọc Pi (2009 – 2011), Thầy Hoàng Vị (2011 – 2015), Thầy Trần Xuân Minh (từ tháng 4/2015).

+ Phó Bí thư: Thầy Hoàng Vị, Thầy Nguyễn Hoàng Nghị (2011 – 2012), Thầy Nguyễn Khắc Tuân (2012 – 2013), Thầy Hồ Ký Thanh (2013 – 2015), Thầy Phạm Thành Long (Tháng 4-5/2015), Thầy Vũ Ngọc Pi (từ tháng 6/2015).

- Ban chủ nhiệm khoa:

+ Trưởng khoa: Thầy Vũ Quý Đạc (2003 – 2009), Thầy Vũ Ngọc Pi (2009 – 2011), Thầy Hoàng Vị (2011 – 2014), Thầy Nguyễn Văn Dự (2014 – 2015).

+ Phó trưởng khoa: Thầy Hoàng Vị (2007 – 2011), Thầy Vũ Lai Hoàng (2009 – 2010), Cô Nguyễn Thị Quốc Dung (2010 – 2011), Thầy Hồ Ký Thanh (2011 – 2015), Thầy Nguyễn Khắc Tuân (2011 – 2013), Thầy Dương Trọng Đại (2013 – 2014), Cô Đỗ Thị Tám (2014 – 5/2015).

- Tổ Văn phòng khoa.

- 05 Bộ môn (gồm cả các bộ môn cở sở và chuyên môn), gồm:

+ Bộ môn Thiết kế Cơ khí (từ 2008 đến 2014 là Kỹ thuật Cơ khí),

+ Bộ môn Công nghệ Vật liệu,

+ Bộ môn Chế tạo máy,

+ Bộ môn Cơ điện tử (chuyển sang khoa Điện tử từ tháng 5/2015),

+ Bộ môn Cơ học,

- Liên chi đoàn khoa Cơ khí.

- BCH Công đoàn khoa:

+ Chủ tịch: Thầy Bùi Ngọc Trân (giai đoạn 2005 – 2007); Thầy Nguyễn Hoàng Nghị (giai đoạn 2007 – 2012); Thầy Nguyễn Khắc Tuân (2012 – 2013), Thầy Dương Trọng Đại (giai đoạn 2013 – 2014), Thầy Hồ Ký Thanh (1/2015 – nay).

Ngoài công tác đào tạo, Khoa Cơ khí cũng luôn chú trọng công tác NCKH và chuyển giao công nghệ đã góp phần quan trọng trọng rèn luyện và nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ giáo viên, đóng góp một phần vào khoản thu Ngân sách qua thuế. Khoa đã xuất bản được 20 bài báo quốc tế, 45 bài báo quốc gia; tổ chức được 04 hội nghi khoa học cấp trường với nhiều báo cáo có chất lượng cao. Cán bộ giáo viên khoa Cơ khí đã và đang thực hiện 07 đề tài NCKH cấp bộ, 05 đề tài cấp đại học, 58 đề tài cấp trường và 30 đề tài NCKH sinh viên góp phần nâng cao đời sống của CBVC và động viên phong trào học tập của HSSV. Công tác chuyển giao công nghệ cũng được các thầy, cô giáo trong khoa tích cực tham gia, đặc biệt là các thầy, cô giáo trẻ. Những năm đầu của giai đoạn này là các Thầy Nguyễn Thuận, Thầy Phạm Quang Đồng, Thầy Nguyễn Phú Sơn (Bộ môn Chế tạo máy). Đến nay là các Thầy Phạm Ngọc Duy, Thầy Đặng Văn Thanh, Thầy Lưu Anh Tùng, Thầy Nguyễn Thái Bình, Thầy Phan Văn Nghị, Thầy Nguyễn Thuấn, Cô Vũ Như Nguyệt… (Bộ môn Chế tạo máy).

Công tác bồi dưỡng tài năng sinh viên vẫn luôn được khoa quan tâm chú trọng, đặc biệt công tác tổ chức và bồi dưỡng sinh viên giỏi tham dự kỳ thi Olympic quốc gia.

7. Những phần thưởng cao quý khoa Cơ khí đã đạt được

Trong 50 năm qua khoa Cơ khí đã đạt được nhiều thành tích nổi bật. Trước hết, cùng với Khoa Điện, đã tạo ra và giữ vững được thương hiệu Đại học Cơ Điện trong lòng người dân khắp 3 miền Bắc – Trung – Nam. Với những thành tích lớn lao trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, khoa Cơ khí cùng các cá nhân và tập thể trong khoa đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận bằng các phần thưởng cao quý sau đây:

- 01 Huân chương Lao động hạng Ba (năm 1997);

- 03 Bằng khen TT Chính phủ (năm 2004???), 05 Bằng khen của Bộ trưởng Bộ GD – ĐT (các năm 2001, 2004, 2008, 2010, 2011);

- 03 Bằng khen của Công đoàn Giáo dục Việt Nam (năm 2004???);

- 07 cá nhân được tặng Huân chương Lao động hạng Ba (PGS.TS. Dương Đình Giáp, PGS.TS. Lê Cao Thăng, PGS.TS. Lê Lương Tài, PGS.TS. Trần Hữu Đà 1999, GS.TS. Nguyễn Đăng Bình 2006, PGS.TS. Nguyễn Đăng Hòe 2009, PGS.TS. Phan Quang Thế 2010);

- 09 Thầy giáo được tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú (PGS.TS. Dương Đình Giáp, PGS.TS. Lê Cao Thăng, PGS.TS. Trần Hữu Đà 2000, PGS.TS. Lê Lương Tài, GS.TS. Nguyễn Đăng Bình 2001, TS. Trần Thọ 2001, PGS.TS. Phan Quang Thế 2008, PGS.TS. Nguyễn Đăng Hòe 2008, PGS.TS. Vũ Quý Đạc 2008);

- 02 Bộ môn được tặng Bằng khen của TT Chính phủ (Bộ môn Cơ sở thiết kế máy 2005, Bộ môn Công nghệ Chế tạo máy 2008); 05 Bộ môn được tặng Bằng khen của Bộ trưởng Bộ GD – ĐT (Bộ môn Hình họa – Vẽ kỹ thuật 2001; Bộ môn Nguyên lý – Chi tiết máy các năm 2003, 2004; Bộ môn Cơ học vật rắn 2003; Bộ môn Công nghệ Chế tạo máy các năm 2004, 2005 và 2007; Bộ môn Máy và Tự động hóa 2004);

- 09 cá nhân được tặng Bằng khen của TT Chính phủ (Thầy Phạm Đức Ngọc 2001, Thầy Trịnh Khắc Nghiêm 2001, Thầy Nguyễn Đăng Bình 2001, Thầy Trần Thọ 2001, Thầy Phan Quang Thế 2007, Thầy Nguyễn Đăng Hòe 2008, Thầy Vũ Quý Đạc 2008, Thầy Trần Minh Đức 2010, Thầy Nguyễn Văn Tuấn 2012);

- Nhiều cá nhân được Bộ trưởng Bộ GD – ĐT tặng Bằng khen (Các thầy cô Võ Xuân Quang 1999; Nguyễn Trọng Khanh 1999, 2007; Trần Đức Hậu 1999, 2001; Phạm Thập 1999; Trần Văn Lầm 1999, 2004, 2007; Trịnh Khắc Nghiêm 1999, 2003; Trần Thị Gái 1999; Phạm Đức Hiểu 1999; Nguyễn Thị Boong 1999; Phạm Thiện Căn 1999, 2003; Phan Sơn 1999; Trần Thọ 1999; Phạm Trung Chính 1999, 2007; Nguyễn Mạnh Lân 1999, 2003; Nguyễn Hữu Tơng 1999; Đinh Văn Ngụ 1999; Hoàng Duy Khản 1999; Nguyễn Văn Dược 1999; Nguyễn Thị Bích 1999; Trần Hữu Đà 1999; Phạm Đức Ngọc 2001, 2003, 2005; Hoàng Thắng Lợi 2001, 2004, 2007, 2008; Nguyễn Đăng Bình 2001, 2003, 2005, 2008; Trần Vệ Quốc 2001, 2007; Nguyễn Hoàng Nghị 2001, 2004, 2007, 2010; Nguyễn Văn Tuấn 2001, 2004, 2009; Nguyễn Kim Bình 2003, 2009; Nguyễn Đăng Hòe 2003, 2004; Phan Quang Thế 2003, 2004; Vũ Đình Trung 2004, 2009, 2011; Hoàng Vị 2004, 2012; Nguyễn Thị Hồng Cẩm 2004, 2009; Nguyễn Thị Quốc Dung 2004, 2007, 2010, 2012; Bùi Ngọc Trân 2005; Nguyễn Văn Hùng 2005; Hoàng Quang Tròn 2007; Bùi Văn Chủng 2007; Thái Hữu Tịch 2007; Lê Viết Bảo 2007; Chu Minh Hải 2007; Nguyễn Phú Hoa 2008; Trần Minh Đức 2008; Nguyễn Văn Dự 2011; Vũ Ngọc Pi 2010 (2011); Bùi Thị Ngọc Chiến 2011; Phạm Thành Long 2012; Cao Thanh Long 2012; Vũ Lai Hoàng 2013);

- 07 thầy giáo đạt danh hiệu CSTĐ cấp Bộ (Các thầy Phạm Đức Ngọc 2000; Nguyễn Đăng Bình 2004,2007; Vũ Quý Đạc 2007; Nguyễn Đăng Hòe 2008; Phan Quang Thế 2009; Nguyễn Văn Tuấn 2011; Vũ Ngọc Pi 2011; Trần Minh Đức 2012) và nhiều thầy giáo, cô giáo, CBVC đạt danh hiệu CSTĐ cấp cơ sở và giấy khen của Giám đốc Đại học Thái Nguyên;

- 12 Thầy giáo, Cô giáo đã được tặng Kỷ niệm chương/ Huy chương Vì sự nghiệp Giáo dục (Các thầy cô Hoàng Thắng Lợi 2002, Nguyễn Đăng Bình 2004, Nguyễn Kim Bình 2004, Nguyễn Thị Gái 2004, Cao Thanh Long 2006, Bùi Thị Ngọc Chiến 2006, Vũ Ngọc Pi 2010, Nguyễn Thị Quốc Dung 2010, Lê Viết Bảo 2010, Dương Công Định 2010, Nguyễn Văn Dự 2011, Bùi Ngọc Trân 2011);

- 09 Thầy giáo đã được chứng nhận Giảng viên dạy giỏi cấp Bộ (Các thầy Nguyễn Đăng Bình 2000, Trần Hữu Đà 2000, Cao Thanh Long 2000, Trần Vệ Quốc 2000, Vũ Đình Trung 2000, Trần Thọ 2000, Trịnh Khắc Nghiêm 2000, Trần Văn Lầm 2000, Phan Quang Thế 2004).

Hiện nay, khoa Cơ khí có ba bộ môn chuyên môn và một bộ môn cơ sở, một tổ văn phòng, có nhiệm vụ đào tạo 4 chuyên ngành đại học, 2 chuyên ngành Thạc sĩ và 1 chuyên ngành Tiến sĩ. Cơ cấu, nhiệm vụ cụ thể của từng đơn vị được trình bày trong phần tiếp theo.

Tin mới hơn

Tin cũ hơn

Tin xem nhiều