Phần II: Dấu ấn phát triển

Đăng ngày: 30-10-2017; 1311 lần đọc

...

 


CHI BỘ KHOA CƠ KHÍ

 

Chi bộ Khoa Cơ khí ra đời và lãnh đạo Khoa ngay từ những ngày đầu thành lập, là một trong hai chi bộ nòng cốt của Đảng bộ trường Đại học Cơ điện Bắc Thái – tiền thân của trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp ngày nay. Những năm đầu, Chi bộ có từ 5 – 7 đảng viên, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Liên chi Đảng bộ, mặc dù điều kiện giảng dạy và đời sống có nhiều khó khăn nhưng với tinh thần quyết tâm của chi bộ, sự nỗ lực của mỗi đảng viên đã đưa phong trào của khoa vượt qua mọi khó khăn, thử thách.

Từ năm 1975 – 1987 để kịp thời cung cấp cán bộ cho sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh, Khoa được giao thêm nhiệm vụ đào tạo kỹ sư hệ chuyên tu. Khi đó do số đảng viên trong Khoa tăng lên gấp nhiều lần (lúc đông nhất là gần 200 đảng viên, sinh hoạt trong 3 chi bộ), Đảng uỷ bộ phận Khoa Cơ khí được ra đời. Qua 4 nhiệm kỳ của Đảng uỷ (1980 – 1990) dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Khoa, sự chỉ đạo trực tiếp của chi bộ, tập thể Khoa Cơ khí đã vượt qua muôn vàn khó khăn, chất lượng đào tạo vẫn luôn được giữ vững; đặc biệt cũng từ những năm này công tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Phòng thí nghiệm chế tạo máy sau là phòng thí nghiệm chế thử thực sự là một cái nôi đào tạo cán bộ khoa học trẻ. Gần 30 thầy cô giáo đã trưởng thành qua hoạt động nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất. Từ cuối năm 1990 khi hệ chuyên tu tạm dừng, Đảng uỷ bộ phận Khoa không còn tồn tại, Chi bộ giáo viên giữ vai trò lãnh đạo Khoa. Lúc này Chi bộ chỉ có 12 Đảng viên, cũng là lúc ngành Cơ khí gặp nhiều khó khăn, năm 1983 do nền kinh tế nước ta rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng, Nhà trường không tuyển sinh khóa K18 do thiếu lương thực trầm trọng. Ngành công nghiệp cơ khí cũng sa sút nghiêm trọng, nhiều nhà máy phải đóng cửa vì không có việc làm. Năm 1989, khóa K24 Khoa chỉ tuyển được 29 SV hệ đại học chính quy.

Tháng 4 năm 1994, Đại học Thái Nguyên được thành lập trên cơ sở sáp nhập các trường Đại học đóng trên địa bàn Thái Nguyên. Đảng bộ Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp trở thành một Đảng bộ Cơ sở trực thuộc Đảng bộ Đại học Thái Nguyên. Chi bộ khoa Cơ khí được giao nhiệm vụ lãnh  đạo toàn diện mọi phong trào của Khoa. Từ năm 2004, Khoa Cơ khí được Bộ Giáo dục – Đào tạo giao nhiệm vụ đào tạo Tiến sỹ ngành Công nghệ chế tạo máy. Năm học 2007 – 2008, khóa 2 của bậc đào tạo Tiến sỹ đã có 4 nghiên cứu sinh. Chi bộ luôn chỉ đạo các bộ môn tạo điều kiện động viên đến mức tối đa để giảng viên đi học cao học và nghiên cứu sinh, khuyến khích học tập ở nước ngoài. Hàng năm, luôn có hàng chục giảng viên của khoa được cử đi học Tiến sỹ, Thạc sỹ, Tập huấn phương pháp giảng dạy, học ngoại ngữ... ở các nước tiên tiến trên thế giới. Từng học kỳ, cấp ủy chi bộ đều chỉ đạo sâu sát các hoạt động của Công đoàn và Đoàn thanh niên. Thêm vào đó, thông qua hoạt động của các tổ chức này, chi bộ phát hiện các quần chúng tích cực để bồi dưỡng, kết nạp vào Đảng. Chi bộ duy trì tốt việc sinh hoạt định kỳ hàng tháng; qua đó để lãnh đạo và triển khai tốt các hoạt động trong khoa. Các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, tự bồi dưỡng của Khoa ngày một phát triển, tương xứng với vị thế của 1 trong 3 trung tâm lớn đào tạo cán bộ kỹ thuật Cơ khí của cả nước.

CÔNG ĐOÀN KHOA CƠ KHÍ

Công đoàn khoa Cơ khí được thành lập và trưởng thành cùng với chính quyền ngay từ khi thành lập khoa. Công đoàn luôn luôn là chỗ dựa vững chắc cho Chi bộ, chính quyền trong việc tập hợp trí tuệ và nhiệt tình của cán bộ công chức trong toàn khoa. Nhiều năm liên tục, Công đoàn khoa Cơ khí đều được công nhận là Công đoàn bộ phận vững mạnh xuất sắc của Công đoàn trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên và được trao tặng bằng khen của Công đoàn ngành Giáo dục Việt Nam. Năm học 2006 – 2007, Công đoàn Khoa đã được trao tặng bằng khen của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam.

Có được những thành tích kể trên là nhờ trong suốt quá trình hoạt động của mình, Công đoàn luôn bám sát các chức năng chính của tổ chức Công đoàn, đó là: công đoàn bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người lao động, khơi dậy và tập hợp sức mạnh đoàn kết vốn có của đơn vị, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, động viên cán bộ công chức hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn của mình; tham gia quản lý, kiểm tra giám sát các hoạt động của đơn vị; cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ công chức. Nhiều công đoàn viên ưu tú đã được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Công đoàn đã từng bước lớn mạnh cùng với chính quyền và thực sự đóng vai trò quan trọng trong xây dựng khối đại đoàn kết của tập thể cán bộ viên chức – nền tảng dẫn tới những thành công to lớn trong sự nghiệp đào tạo và phát triển của khoa Cơ khí.

Buổi gặp mặt Dâu, Rể khoa Cơ khí nhân dịp kỷ niệm 29 năm thành lập khoa.

Tập thể khoa Cơ khí tham quan tại cửa khẩu quốc tế Móng Cái (hè năm 2006).

LIÊN CHI ĐOÀN KHOA CƠ KHÍ

Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ, Liên chi đoàn khoa Cơ khí không ngừng được củng cố, kiện toàn và hoạt động thiết thực hiệu quả. Bám sát mục tiêu cơ bản: dạy, học, thực hành sản xuất và NCKH, Đoàn thanh niên luôn hướng tuổi trẻ vào các hoạt động bổ ích như phối hợp với các chi đoàn tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề về chuyên môn, về Tin học và Ngoại ngữ, về các công nghệ mới, hội thảo về phương pháp học tập, các hoạt động NCKH, ...

Trong công tác tự quản và giữ gìn an ninh trật tự, lực lượng thanh niên đã tỏ rõ vai trò nòng cốt. Các phong trào TDTT, văn hoá, văn nghệ được các đoàn viên, sinh viên tham gia nhiệt tình, hào hứng, tạo ra không khí thi đua sôi nổi trong toàn khoa. Tuổi trẻ khoa Cơ khí thường xuyên tham gia tích cực trong các hoạt động tình nguyện tại chỗ, hè tình nguyện và hiến máu nhân đạo,... Nhiều cá nhân có thành tích xuất sắc được TW Đoàn tặng bằng khen. Nhiều đoàn viên đã vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhiều năm qua Liên chi Đoàn khoa Cơ khí luôn là đơn vị mạnh trong phong trào thanh niên của Đoàn trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp và Đại học Thái Nguyên, được Tỉnh Đoàn Thái Nguyên trao tặng nhiều phần thưởng cao quý.

TỔ VĂN PHÒNG KHOA

Tổ Văn phòng khoa được thành lập ngay từ khi thành lập khoa Cơ khí. Các cán bộ văn phòng là những chuyên viên trực tiếp giúp việc cho Ban chủ nhiệm về các mặt: công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, tổ chức cán bộ và quản lý HSSV. Tuy công việc rất đa dạng, phức tạp nhưng các thành viên trong tổ vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được khoa và Nhà trường đánh giá cao. Cán bộ văn phòng khoa luôn phát huy truyền thống không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ để đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển.

Bộ môn Chế tạo máy được thành lập năm 2008 do hợp nhất ba bộ môn chuyên môn của khoa lúc bấy giờ là: Bộ môn Dụng cụ cắt Vật liệu kỹ thuật, Bộ môn Máy và Tự động hóa, Bộ môn Công nghệ Chế  tạo máy. Các bộ môn này đều được thành lập đúng vào ngày 30/10/1972, trùng với ngày thành lập khoa với các tên gọi khi đó là Bộ môn Dao cắt, Bộ môn Máy cắt kim loại và Bộ môn Công nghệ Chế tạo máy.

Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, bộ môn đã nỗ lực vượt qua mọi  khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao để tự khẳng định mình và luôn xứng đáng là một trong những bộ môn chuyên môn chủ chốt của Khoa và Nhà trường.

Các thành viên đã và đang công tác tại bộ môn không ngừng học tập nâng cao trình  độ chuyên môn, nghiên cứu khoa học, phục vụ  thực tiễn sản xuất, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học đã được thực hiện, nhiều sản phẩm cơ khí của bộ môn  đã  được thị  trường tín nhiệm như: các loại bánh răng trụ, bánh răng côn xoắn, bánh vít, bánh xích,...; các loại bơm trục vít xicloide, bơm piston hướng trục..; các phụ tùng cho các hệ thống tự động; Rotor- Stator máy nghiền bột giấy,  đĩa nghiền bột giấy, chày cối dập thuốc viên, khuôn gạch chịu lửa, dao phẳng các loại, các phụ  tùng thay thế cho nhà máy xi măng và cán thép …

Hiện nay, Bộ môn Chế tạo máy có nhiệm vụ giảng dạy và đào tạo trình độ đại học, sau đại học các môn học chuyên ngành chế  tạo máy của Khoa Cơ khí và các môn học thuộc lĩnh vực tự động hóa cho các ngành kỹ thuật của Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp. Đây là bộ môn có số lượng giảng viên lớn nhất, số sinh viên theo học chuyên ngành đông nhất. Bộ môn luôn đề cao công tác xây dựng và đào tạo đội ngũ, nâng cao chất lượng giảng dạy và đổi mới nội dung các môn học, phát triển các môn học chuyên ngành để phù hợp với trình độ phát triển của thực tế sản xuất, chú trọng công tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ.

Định hướng phát triển bộ môn:

- Xây dựng Bộ môn vững mạnh về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, có khả năng sử dụng ngoại ngữ và ứng dụng tin học trong công tác chuyên môn và nghiên cứu khoa học.

- Phát triển đào tạo chuyên ngành chế tạo máy đạt chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành kỹ thuật cơ khí hiện đại.

- Phát triển hợp tác quốc tế về đào tạo, nghiên cứu khoa học và  chuyển giao công nghệ phục vụ sản xuất.

Các lĩnh vực nghiên cứu:

- Kỹ thuật máy công cụ;

- Dụng cụ chế tạo máy;

- Tạo hình và chế tạo;

- Ứng dụng hệ thống tự động.

Bộ môn có nhiệm vụ giảng dạy bậc Đại học các môn học chuyên ngành về Thiết kế cơ khí và các môn cơ sở cho các chuyên ngành Cơ khí khác. Các Phó giáo sư, Tiến sỹ của bộ môn đảm nhận các công tác hướng dẫn Nghiên cứu sinh, giảng dạy cho các ngành Cao học về Cơ kỹ thuật và Kỹ thuật Cơ khí.

Các học phần chuyên ngành cho ngành Thiết kế-chế tạo cơ khí do bộ môn đảm nhận bao gồm: Thiết kế sản phẩm với CAE; Phương pháp và Tiến trình thiết kế; Lựa chọn vật liệu trong thiết kế; Mô hình hóa các hệ thống động lực; Phương pháp phần tử hữu hạn; Thiết kế thí nghiệm; Vật liệu composite.

Các học phần cơ sở, giảng dạy cho các ngành kỹ thuật khác: Đại cương về kỹ thuật; Vẽ kỹ thuật; Nguyên lý máy; Chi tiết máy; Cơ học vật liệu.

Lịch sử của Bộ môn Thiết kế Cơ khí là lịch sử của ba bộ môn: Sức bền vật liệu, Nguyên lý – Chi tiết máy và Hình họa – Vẽ kỹ  thuật. Ngay sau khi thành lập Trường Đại học Cơ Điện năm 1967, các Bộ môn này đã ra đời.

Ngay sau khi thành lập Trường Đại học Cơ Điện, năm 1967 Bộ môn “Sức bền vật liệu” được thành lập, các thành viên đầu tiên của Bộ môn là PGS. PTS. Lê Quang Minh và các thầy Phan Đức Thịnh - Trưởng BM (1967 -1983); Hoàng Văn Thanh 1969 - 1980); TS. Nguyễn Văn Hùng (1967 - 1971. Năm 1997, Bộ môn được sáp nhập với bộ môn Cơ học lý thuyết thành bộ môn “Cơ học Vật rắn” do thầy Hoàng Thắng Lợi làm trưởng bộ môn). Tháng 6/2004, bộ phận Cơ lý thuyết được tách ra khỏi bộ môn Bộ môn. Từ đây, Bộ môn Cơ học vật liệu đảm nhận nội dung chuyên môn của môn học Sức bền vật liệu như trước.

Bộ môn Cơ học vật liệu, Ảnh chụp 10/2007 

 Bộ môn Nguyên lý – Chi tiết máy được thành lập năm 1967. Những ngày đầu khi trường Đại học KTCN còn là một phân hiệu Đại học Bách khoa, các thầy Dương Đình Giáp, Trần Thọ, Trịnh Quang Vinh, Nguyễn Kim Cương... đựơc phân công trực tiếp giảng dạy các môn học Nguyên lý máy và Chi tiết máy, Đến năm 1967 bộ môn Nguyên lý -Chi tiết máy chính thức được thành lập và thầy Trần Thọ được cử làm trưởng bộ môn. Năm 1968 bộ môn tách thành thành hai bộ môn độc lập: Nguyên lý máy và Chi tiết máy. Năm 1984 hai bộ môn lại được hợp nhất thành bộ môn Nguyên lý-Chi tiết máy do TS. Phạm Dương làm trưởng bộ môn.

     Bắt đầu từ năm 2001 đến nay, đặc biệt giai đoạn 2003 đến 2008, các đội tuyển Olympic Nguyên lý máy và Olympic Chi tiết máy đã liên tục giành được nhiều giải cao cả về cá nhân lẫn giải đồng đội trong các cuộc thi Olympic Cơ học toàn quốc, góp phần đưa tên tuổi nhà trường lên tốp những trường đứng đầu của khối các trường Đại học kỹ thuật trong cả nước về phong trào thi Olympic. Một điểm nhấn nữa của giai đoạn 2003 đến 2008 là hàng loạt các giảng viên của bộ môn đã phấn đấu và nhận được học bổng đào tạo sau đại học ở nước ngoài.

Bộ môn Cơ sở thiết kế máy, 10/2007 

Năm 2008, theo chủ trương của Nhà trường, mỗi bộ môn phụ trách một chuyên ngành đào tạo của khoa nên các bộ môn Cơ học vật liệu, Bộ môn Cơ sở thiết kế máy và Bộ môn Hình họa – Vẽ kỹ thuật sáp nhập thành Bộ môn Kỹ thuật cơ khí, đảm nhận chuyên môn cho một chuyên ngành mới là Thiết kế và chế tạo cơ khí. Ngoài nhiệm vụ truyền thống là giảng dạy các môn học cơ sở của ngành Cơ khí (Vẽ kỹ thuật, Sức bền vật liệu, Nguyên lý máy, Chi tiết máy), bộ môn được giao nhiệm vụ xây dựng đề cương chi tiết và bài giảng bằng tiếng Việt cho các môn học của Chương trình tiên tiến ngành Kỹ thuật cơ khí (Mechanical Engineering), chuyên ngành Thiết kế-chế tạo (Design and Manufacturing) được nhập khẩu từ Hoa Kỳ. Từ năm 2009, bộ môn bắt đầu giảng dạy các môn học được nhập khẩu bằng tiếng Việt cho sinh viên Cơ khí.

Đến năm 2014, Bộ môn được đổi tên thành Bộ môn Thiết kế cơ khí để phù hợp với chuyên ngành Thiết kế – Chế tạo cơ khí mà bộ môn đang phụ trách chuyên môn.

Bộ môn Hình họa – Vẽ kỹ thuật, 2004

Phát huy truyền thống của thế  hệ  các thầy cô giáo đi trước, Bộ môn Thiết kế cơ khí đã và đang phát triển thành một tập thể đoàn kết, tham gia tích cực trong các phong trào giảng dạy, nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng sinh viên giỏi, thực hành thí nghiệm và ứng dụng thực tế  sản xuất, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giảng dạy về cả khối lượng và chất lượng. Bộ môn lấy việc đào tạo sinh viên giỏi làm mục tiêu  để nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng nhân tài. Hầu hết các thành viên trong bộ môn  đều tham gia tích cực và có những đóng góp đáng kể trong công tác ôn luyện đội tuyển Olympic Cơ học Toàn quốc. Ngoài ra, bộ môn còn tham gia tích cực trong công tác nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, đã bảo vệ thành công nhiều đề tài NCKH cấp Bộ, tham gia báo cáo ở các hội nghị khoa học trong và ngoài nước, có nhiều bài báo được đăng tải ở các tạp chí khoa học trong nước và Quốc tế.

      Từ năm 2000 đến nay, đã có 07 thầy cô của bộ môn bảo vệ thành công luận án tiến sỹ, 05 thầy giáo của bộ môn đã được phong học hàm Phó giáo sư; cụ thể là:

- Thầy Phan Quang Thế, nhận học vị tiến sỹ năm 2003; được phong hàm Phó giáo sư năm 2006; danh hiệu Nhà giáo ưu tú năm 2008;

- Thầy Vũ Quý Đạc, nhận học vị tiến sỹ năm 2003; phong hàm Phó giáo sư năm 2007; danh hiệu Nhà giáo ưu tú năm 2008;

- Thầy Ngô Như Khoa, nhận học vị tiến sỹ năm 2002; phong hàm Phó giáo sư năm 2007;

- Thầy Nguyễn Văn Dự, nhận học vị tiến sỹ năm 2007; phong hàm Phó giáo sư năm 2011;

- Thầy Vũ Ngọc Pi, nhận học vị tiến sỹ năm 2008; phong hàm Phó giáo sư năm 2011;

- Cô Nguyễn Thị Quốc Dung, nhận học vị tiến sỹ năm 2012.

- Thầy Dương Phạm Tường Minh, nhận học vị tiến sỹ năm 2013.

Từ năm 1997 đến nay, các thầy cô giáo trong bộ môn đã tham gia thực hiện 01 đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, chủ trì 22 đề tài Nghiên cứu khoa học cấp Bộ và hàng trăm đề tài NCKH cấp cơ sở.

Đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu triển khai ứng dụng công nghệ mạ Composite nhằm nâng cao chất lượng và khả năng làm việc của chi tiết máy trong điều kiện ma sát và mòn cao”, Mã số KC.02.18/06 – 10, do PGS.TS. Nguyễn Đăng Bình làm chủ nhiệm, PGS.TS. Phan Quang Thế làm thư ký khoa học.

Các đề tài cấp Bộ do các thầy cô trong bộ môn làm chủ trì từ năm 1997 đến nay:

1. Vũ Ngọc Pi; Ứng dụng CAD tự động hóa thiết kế hệ thống dẫn động cơ khí; Mã số B97-01-12; 1997

2. Nguyễn Văn Dự; Tối ưu hóa và tự động hóa thiết kế động cơ-hộp giảm tốc; Mã số B98-01-26; 1998
3. Phan Quang Thế; Nghiên cứu khả năng của ứng dụng phủ PVD dùng cắt thép cacbon trung bình trên máy vạn năng; Mã số B99-01-34; 1999
 4. Vũ Quý Đạc; Thiết kế tối ưu động học cơ cấu tổ hợp bánh răng-xích-thang (BXT) để thực hiện truyền động dừng chính xác; Mã số B1999-31; 1999
5. Trần Văn Lầm; Cân bằng động động cơ quay kích thước lớn; Mã số B2000-01-43; 2000
6. Ngô Như Khoa; Khảo sát và tính toán độ bền cơ học tấm composite dày nhiều lớp bằng phương pháp phần tử hữu hạn; Mã số B2000-01-41; 2000
7. Vũ Ngọc Pi; Nghiên cứu thiết kế tối ưu hệ dẫn động dùng hộp giảm tốc trục vít hai cấp; Mã số B2001-01-04; 2001
8. Phan Quang Thế; Nghiên cứu thiết kế chế tạo khuôn ép gạch lát nền Ceramics.; Mã số B2003- 01-29; 2003
9. Vũ Quý Đạc; Nghiên cứu lựa chọn giải pháp công nghệ, để nâng cao độ bền bộ chày cối dập vỏ kẽm pin tiểu R6 và pin trung R20 tại các doanh nghiệp sản xuất pin: Pin Xuân hoà, pin Văn điển, pin Vĩnh phúc; Mã số B2004-01-32; 2004

10.Hoàng Thắng Lợi; Nghiên cứu mở rộng phạm vi các bài toán tính toán cơ học kết cấu tấm Composite chịu uốn bằng phương pháp phần tử hữu hạn theo mô hình chuyển vị bạc cao; Mã số B2004-01-31; 2004

11.Ngô Như Khoa; Nghiên cứu xây dựng giải thuật và chương trình tạo lưới theo ý muốn và thành lập ma trận độ cứng tổng thể của bài toán tính tấm, vỏ Composite dày nhiều lớp bằng phương pháp phần tử hữu hạn với phần tử tứ giác bậc cao; Mã số B2004-01-30; 2004

12.Nguyễn Hoàng Nghị; Nghiên cứu sự tập trung ứng suất đối với tấm vật liệu Compozit; Mã số B2005-01-56; 2005

13.Thị Quốc Dung; Nghiên cứu cơ sở lý tuyết truyền động hành tinh. ứng dụng tin học trong tính toán thiết kế và xây dựng kết cấu hệ dẫn động hành tinh; Mã số B2005-01-53; 2005

14.Phan Quang Thế; Nghiên cứu mối quan hệ giữa chế độ cắt và tuổi bền của dao hợp kim cứng phủ dùng tiện tinh thép hợp kim qua tôi.; Mã số B2007-TN02-02; 007

15.Nguyễn Thị Quốc Dung; Nghiên cứu và ứng dụng công nghệ tiện cứng trong gia công chế tạo con lăn dẫn hướng cho các dây chuyền các thép ở Việt Nam.; Mã số B2008-TN02-09; 2008

16.Nghiên cứu lựa chọn giải pháp nâng cao chất lượng các loại dầu ép đá bavia cỡ nhỏ, cỡ trung, cỡ lớn cho Công ty cổ phần đá mài Hải Dương.; Mã số: B2008-TN02-03; 2008

17.Nguyễn Văn Dự; Nghiên cứu phát triển mô hình động lực học phi tuyến của cơ cấu rung va đập dùng ống Sô-lê-nô-ít trong mạch cộng hưởng RLC, ứng dụng cho các máy rung va đập yêu cầu kích thước nhỏ gọn.; Mã số B2008-TN02-01; 2008

18.Tuổi bền tối ưu của vòi phun trong công nghệ làm sạch bằng phun cát.; Mã Số B2009-TN02-06; 2009

19.Nguyễn Văn Dự; Xây dựng hệ thống năng lượng mặt trời tự xoay nhằm thu được năng lượng lớn nhất; Mã số B2010-TN01-01; 2010

20.Vũ Ngọc Pi; Nghiên cứu, xác định tuổi bền tối ưu của đá mài trong gia công mài tròn ngoài; Mã số B2012-TN01-01; 2012

21.Nguyễn Văn Dự; Nghiên cứu thiết kế, chế tạo hệ thống rung cơ - điện tử trong gia công khuôn mẫu; Mã số B2013-TN01-02; 2013;

22.  Nguyễn Văn Dự; Động lực học phi tuyến cơ cấu rung va đập theo phương ngang; Đề tài NCKH cơ bản cấp Nhà nước (NAFOSTED); Mã số 107.01-2012.33; 2013.

Các thầy cô giáo của bộ môn cũng đã biên soạn nhiều giáo trình, sách tham khảo phục vụ đào tạo Đại học, sau đại học, bao gồm:

1. Nguyễn Đăng Bình, Phan Quang Thế; Ma sát, mòn và bôi trơn trong kỹ thuật; NXB Khoa học kỹ thuật, 2006;

2. Vũ Quý Đạc; Cơ học ứng dụng; NXB Khoa học kỹ thuật, 2007;

3. Trần Ích Thịnh, Ngô Như Khoa; Phương pháp phần tử hữu hạn; NXB Khoa học Kỹ thuật, 2007;

4. Trịnh Quang Vinh, Nguyễn Đăng Bình, Phạm Thành Long; Robot công nghiệp; NXB Khoa học kỹ thuật, 2008;

5. Vũ Ngọc Pi; Performance Enhancement of Abrasive Waterjet Cutting; Delft University of Technology, The Netherlands, ISBN: 978-90-9023096-2;

6. Nguyễn Quốc Tuấn, Vũ Ngọc Pi, Nguyễn Văn Hùng; Các phương pháp gia công tiên tiến; NXB Khoa học kỹ thuật, 2009;

7. Nguyễn Đăng Bình, Nguyễn Văn Dự; Phương pháp nghiên cứu khoa học; NXB Khoa học kỹ thuật, 2010;

8. Nguyễn Văn Dự, Nguyễn Đăng Bình; Quy hoạch thực nghiệm trong kỹ thuật; NXB Khoa học kỹ thuật, 2011.

Định hướng phát triển bộ môn:

- Xây dựng Bộ môn vững mạnh về chuyên môn, nghiệp vụ, có khả năng sử dụng ngoại ngữ và ứng dụng tin học trong công tác chuyên môn và nghiên cứu khoa học.

- Phát triển đào tạo chuyên ngành Thiết kế cơ khí đạt chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành kỹ thuật cơ khí hiện đại.

- Phát triển hợp tác quốc tế về đào tạo, nghiên cứu khoa học và  hướng dẫn sinh viên thành công trong học tập và nghiên cứu khoa học.

Các lĩnh vực nghiên cứu:

- Thiết kế máy và thiết bị công nghiệp;

- Động học và động lực học;

- Dao động;

- Ứng dụng vật liệu kỹ thuật.

Bộ môn Công nghệ vật liệu ngày nay được thành lập năm 2008 do sự hợp nhất ba Bộ môn: Kỹ thuật vật liệu, Kỹ thuật chế tạo máy, Cơ khí Luyện kim – Cán thép. Cả ba Bộ môn đều được thành lập rất sớm (tháng 01 / 1967, sau khi thành lập phân hiệu Cơ điện) với các tên gọi ban đầu lần lượt là Bộ môn Kim loại học, Bộ môn Công nghệ kim loại và Bộ môn Cơ khí luyện kim và Cán thép. Lịch sử của Bộ môn Công nghệ vật liệu gắn liền với sự hình thành và phát triển của các Bộ môn này.

Từ những ngày đầu thành lập đến năm 2008, Bộ môn Kỹ thuật vật liệu (hay trước năm 1996 là Kim loại học, từ năm 1996 đến 2004 được sáp nhập với Bộ môn Thủy lực được gọi là Vật liệu học và Thủy lực) là bộ môn cơ sở chịu trách nhiệm giảng dạy môn học Kim loại học và nhiệt luyện (sau này được đổi tên là Vật liệu học và đến nay là Kỹ thuật vật liệu) cho các hệ đào tạo của ngành cơ khí nói chung và một số môn học chuyên sâu cho chuyên ngành Cơ khí luyện kim nói riêng. Ngoài ra, một số thầy giáo của bộ môn còn tham gia việc giảng dạy môn học Thủy lực (nay là Kỹ thuật thủy khí) cho sinh viên các hệ đào tạo của nhà trường. Bên cạnh việc giảng dạy lý thuyết, Bộ môn phụ trách phòng thí nghiệm Kim loại học phục vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học cũng như chuyển giao công nghệ. Phòng thí nghiệm Kim loại học tồn tại song song với sự tồn tại của Bộ môn Kim loại học cho đến khi được nhà trường điều chuyển sang Trung tâm Thí nghiệm vào năm 2008. Trong quá trình xây dựng và trưởng thành, đã có 14 thầy cô giáo và 2 cán bộ thí nghiệm tham gia sinh hoạt chuyên môn tại Bộ môn. Các thầy cô giáo của Bộ môn đã biên soạn được 1 giáo trình Vật liệu học, gồm 2 tập để phục vụ các hệ đào tạo của ngành Cơ khí. Nhiều thầy giáo trong Bộ môn đã được tặng Bằng khen của Bộ trưởng Bộ GD – ĐT.

Bộ môn Kỹ thuật chế tạo máy (từ ngày thành lập đến năm 1995 là Bộ môn Công nghệ kim loại) là bộ môn cơ sở chịu trách nhiệm giảng dạy các môn học:

 - Công nghệ kim loại (sau này được đổi tên là Kỹ thuật chế tạo máy và đến nay là Công nghệ chế tạo phôi) cho sinh viên các hệ đào tạo của ngành cơ khí nói riêng và các ngành khác của nhà trường nói chung.

- Cơ khí đại cương (hay Các quá trình sản xuất cơ khí) cho sinh viên các ngành.

Trải qua quá trình xây dựng và trưởng thành, các thầy cô giáo của Bộ môn Kỹ thuật chế tạo máy đã biên soạn được các giáo trình: Công nghệ Đúc, Gia công áp lực, Công nghệ hàn và giáo trình Kỹ thuật chế tạo máy (gồm 03 tập); tài liệu về Hướng dẫn thiết kế công Đúc – Rèn và tài liệu Hướng dẫn thí nghiệm Robot Hàn phục vụ công tác đào tạo các hệ của ngành Cơ khí. Bên cạnh đó, phòng thí nghiệm Công nghệ kim loại thuộc bộ môn ngoài việc đáp ứng nhu cầu đào tạo còn phục vụ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Ngoài việc giảng dạy cho sinh viên khoa Cơ khí, một số thầy giáo của bộ môn còn tham gia giảng dạy cho Trung tâm tin học của nhà trường (thầy Phạm Việt Bình, thầy Bùi Ngọc Trân, thầy Nguyễn Phú Hoa); tham gia sinh hoạt chuyên môn, hướng dẫn Đồ án tốt nghiệp cùng Bộ môn Cơ khí luyện kim – Cán thép (thầy Vũ Đình Trung, thầy Bùi Ngọc Trân) và hướng dẫn Đồ án tốt nghiệp cho sinh viên chuyên ngành Cơ khí chế tạo máy (Hội đồng Cơ học Máy). Nhiều giảng viên của bộ môn đã được nhà trường giao trọng trách quan trọng như thầy Lê Cao Thăng (Trưởng khoa; Hiệu trưởng; Giám đốc Đại học TN); thầy Nguyễn Đăng Bình (Trưởng phòng Đào tạo; Hiệu trưởng), thầy Phạm Ngọc Trúc (Phó Trưởng khoa); thầy Vũ Đình Trung (Phó Trưởng phòng Đào tạo), thầy Bùi Ngọc Trân (Phó Trưởng khoa; Phó Trưởng phòng Thanh tra Khảo thí và ĐBCLGD), thầy Nguyễn Phú Hoa (Phó Giám đốc Trung tâm tin học; Phó trưởng phòng Tổng hợp), thầy Phạm Việt Bình (Giám đốc Trung tâm Tin học – nay là Hiệu trưởng trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông)… Bên cạnh đó, nhiều thầy giáo của Bộ môn đã Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước phong chức danh Phó Giáo sư như thầy Lê Cao Thăng, thầy Nguyễn Đăng Bình, thầy Nguyễn Phú Hoa, thầy Đỗ Khắc Đức…

Với rất nhiều thành tích đã đạt được trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học, các thầy Lê Cao Thăng, Nguyễn Đăng Bình đã được Nhà nước tặng Huân chương Lao động Hạng 3 và danh hiệu Nhà giáo Ưu tú; nhiều thầy giáo trong Bộ môn đã được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cũng như Bộ trưởng Bộ GD – ĐT.

Từ những ngày đầu thành lập trường, ngành Cơ khí luyện kim và Cán thép đã bắt đầu được đào tạo song song với ngành Cơ khí và ngành Điện của nhà trường. Trải qua 7 năm với 4 khóa, đã có 7 lớp Kỹ sư gồm cả Cơ khí luyện kim và Cán thép tốt nghiệp ra trường. Tuy nhiên, đến năm 1972, nhận thấy ngành thép không phát triển nên nhà trường tạm dừng đào tạo các ngành này. Bộ môn Cơ khí luyện kim bị giải thể, các thầy cô giáo đang công tác tại Bộ môn được điều động về giảng dạy các môn học khác trong khoa và công tác ở các bộ phận khác trong trường. Nhiều thầy đã được cử giữ những chức vụ quan trọng trong khoa và trường như thầy Trần Thọ (Trưởng khoa), Thầy Trần Đức Hậu (Trưởng phòng Tổ chức Cán bộ)… Đến năm 1994, Bộ môn Cơ khí Luyện kim – Cán thép được tái thành lập trên cơ sở các giảng viên đã từng công tác tại Bộ môn Cơ khí Luyện kim và Cán thép trước đây khi nhu cầu về nhân lực được đào tạo cơ bản cao phục vụ cho sự phát triển của Công ty Gang Thép Thái Nguyên là rất cấp thiết. Thời điểm này, ngoài 03 giảng viên trước đây của Bộ môn (thầy Trần Thọ, thầy Phạm Thập, thầy Trần Đức Hậu), các thầy cô giáo khác trong khoa, trong trường cũng như các giảng viên thỉnh giảng được mời từ trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã nỗ lực, cố gắng hết mình để hoàn thành kế hoạch đào tạo cho sinh viên 02 lớp tại chức này. Mặc dù giảng viên cơ hữu ít nhưng hầu hết các giáo trình chính phục vụ quá trình đào tạo chuyên ngành này đều được các thầy gấp rút hoàn thành như: Giáo trình Thiết bị Cơ khí xưởng cán (gồm 2 tập, thầy Trần Thọ biên soạn); Giáo trình Thiết bị Cơ khí xưởng Luyện gang (1 tập, thầy Trần Thọ biên soạn); Giáo trình Thiết bị Cơ khí xưởng luyện thép lò chuyển (1 tập, thầy Trần Thọ biên soạn); Giáo trình Cơ khí xưởng Luyện thép lò điện (1 tập, thầy Dương Phúc Tý biên soạn)… Với rất nhiều thành tích đã đạt được cả trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học, thầy Trần Thọ đã được nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo Ưu tú. Nhiều thầy giáo trong Bộ môn đã được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ GD – ĐT.

Từ năm 1999 (khóa K35), nhà trường chính thức mở đào tạo lại hệ chính quy chuyên ngành Cơ khí Luyện kim – Cán thép. Do nhu cầu nhân lực và do ngành thép gặp nhiều khó khăn, phải đến khóa K41 mới tiếp tục đào tạo sinh viên chuyên ngành này. Cũng vì lý do khó khăn này, mặc dù các giảng viên có nhiều kinh nghiệm đã nghỉ hưu nhưng hầu như Bộ môn không tuyển bổ sung được giảng viên. Đầu năm 2006, bộ môn chỉ còn 2 giảng viên. Đến giữa năm 2006, Bộ môn đã tuyển được 3 giảng viên nhưng chỉ sau một thời gian ngắn làm việc tại trường, đầu năm 2008 các giảng viên này lại chuyển công tác.

(Ảnh chụp ngày 06/12/2014 cùng thầy Trần Thế Quang, Nguyên trưởng Bộ môn).

Bộ môn Công nghệ vật liệu được thành lập với mục tiêu mỗi bộ môn quản lý chuyên môn một chuyên ngành/chuyên ngành đang được đào tạo tại trường. Do vậy, từ năm 2008 ngoài việc giảng dạy các môn học truyền thống của các Bộ môn cũ, các giảng viên của Bộ môn chung tay gánh vác nhiệm vụ đào tạo chuyên ngành Cơ khí Luyện kim – Cán thép. Từ khóa K44 đến nay, đã có 02 lớp chính quy (K44, K45), 04 lớp Liên thông chính quy (LT09, LT10, LT11, LT12) tốt nghiệp chuyên ngành này. Năm 2014, đứng trước yêu cầu khó khăn về tuyển sinh, chuyên ngành Cơ khí Luyện kim – Cán thép được xây dựng lại thành chuyên ngành Kỹ thuật gia công tạo hình.

Bên cạnh chuyên ngành Cơ khí Luyện kim – Cán thép, bắt đầu từ năm 2009 (khóa K45) nhà trường đã được Đại học Thái Nguyên chính thức cho phép đào tạo ngành Kỹ thuật vật liệu tại trường. Bộ môn Công nghệ vật liệu được giao trách nhiệm quản lý chuyên môn cũng như các học phần chuyên ngành của ngành này. Đến nay, đã có 1 khóa Kỹ sư Vật liệu (K45) tốt nghiệp và được các đơn vị tiếp nhận đánh giá cao. Do vậy, từ khóa K50 nhà trường tiếp tục đào tạo ngành này thường niên.

Công tác đào tạo đội ngũ trong giai đoạn này cũng được Bộ môn và khoa hết sức quan tâm. Nhiều giảng viên trẻ được Nhà trường cử đi học tập nâng cao trình độ (Thạc sỹ, Tiến sỹ) tại các trường Đại học lớn trong nước và nước ngoài. Hiện tại, Bộ môn gồm 9 giảng viên (trong đó có 2 giảng viên kiêm nhiệm) gồm có 5 Thạc sỹ; 2 Tiến sỹ; 1 giảng viên chuẩn bị bảo vệ Luận án Tiến sỹ; 1 giảng viên đang học Nghiên cứu sinh. Nhiều giảng viên trẻ của bộ môn trong giai đoạn này đã được nhà trường giao những vị trí quản lý như thầy Trần Anh Đức (Phó Giám đốc Trung tâm thí nghiệm); thầy Vũ Lai Hoàng (Phó Bí thư Đoàn trường; Phó Trưởng khoa; Phó Trưởng phòng Đao tạo, Phó trưởng phòng Quản trị phục vụ, Phó trưởng phòng CT HSSV, Phó Giám đốc Trung tâm thí nghiệm); thầy Nguyễn Phú Hoa (Viện phó Viện NCPT CNC về KTCN); thầy Hồ Ký Thanh (Phó Trưởng khoa)…

Công tác nghiên cứu khoa học của bộ môn cũng đạt được những kết quả hết sức tích cực. Tính từ năm 2008 đến nay, các giảng viên của bộ môn đã tham gia và chủ trì nhiều đề tài NCKH các cấp gồm: 01 đề tài cấp Nhà nước; 05 đề tài cấp Bộ và cấp Bộ trọng điểm; 04 đề tài cấp Đại học Thái Nguyên và hàng chục đề tài cấp Cơ sở, cấp Trường. Đã có hàng chục công bố khoa học của giảng viên bộ môn được đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước và quốc tế; tạp chí khoa học công nghệ Đại học Thái Nguyên hoặc trên các Kỷ yếu hội nghị khoa học quốc tế và trong nước.

Việc học tập ngoại ngữ (theo Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020) cũng được các giảng viên của bộ môn tích cực tham gia. Tính đến đầu năm 2015, đã có 2 giảng viên đạt chuẩn tiếng Anh Toefl ITP 500 trở lên, các giảng viên còn lại đều đạt chuẩn tiếng Anh năm 2014 (Toefl ITP 450 trở lên) của nhà trường (tương đương chuẩn tiếng Anh đến năm 2020 theo Đề án Ngoại ngữ Quốc gia 2020).

Định hướng phát triển bộ môn:

- Xây dựng Bộ môn vững mạnh về chuyên môn, có khả năng sử dụng ngoại ngữ  và ứng dụng tin học trong công tác chuyên môn và nghiên cứu khoa học.

- Phát triển đào tạo hai chuyên ngành/ngành Kỹ thuật gia công tạo hình và Kỹ thuật vật liệu đáp ứng nhu cầu xã hội.

- Phát triển hợp tác quốc tế về đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ phục vụ sản xuất.

Các lĩnh vực nghiên cứu:

- Gia công vật liệu kỹ thuật;

- Vật liệu composite, vật liệu mới;

- Gia công áp lực.

Tiền thân của Bộ môn Cơ học chính là Bộ môn Thuỷ lực thuộc khoa Cơ khí và Bộ môn Cơ lý thuyết thuộc khoa Khoa học cơ bản, hai bộ môn được hình thành từ những ngày đầu thành lập Trường Đại học Cơ Điện, nay là trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp - Đại học Thái nguyên. Năm 1994, Bộ môn Cơ lý thuyết chuyển về khoa Cơ khí và sáp nhập với Bộ môn Thủy lực tạo thành Bộ môn Cơ học. Năm 1996, tổ Cơ lý thuyết tách ra khỏi Bộ môn Cơ học và sáp nhập với Bộ môn Sức bền vật liệu thành lập Bộ môn Cơ học vật rắn. Cũng trong năm này, Bộ môn Thuỷ lực sáp nhập với Bộ môn Kim loại học thành Bộ môn Vật liệu học và Thuỷ lực. Ngày 23 / 06 / 2004, tổ Thuỷ lực tách ra từ Bộ môn Vật liệu học và Thuỷ lực và sáp nhập với tổ Cơ lý thuyết tách ra từ Bộ môn Cơ học vật rắn kết hợp với các giảng viên đầu tiên của ngành Kỹ thuật môi trường và Kỹ thuật xây dựng tạo thành bộ môn Cơ học và Kỹ thuật Môi trường.

Đến 09/2006, Nhà trường tái thành lập khoa Khoa học Cơ bản, Bộ môn Cơ học và Kỹ thuật môi trường lại được tách ra, nhóm Cơ lý thuyết chuyển về khoa Khoa học Cơ bản và thành lập Bộ môn Cơ học. Nhóm Thuỷ lực vẫn thuộc khoa Cơ khí và được nhà trường thành lập Bộ môn Kỹ thuật thuỷ khí. Nhóm Kỹ thuật môi trường và nhóm Kỹ thuật xây dựng được điều chuyển về khoa Quản lý Công nghiệp – Môi trường (mới được thành lập lúc đó) tạo thành các Bộ môn Kỹ thuật Môi trường và Kỹ thuật xây dựng. Đến 09/2008, bộ môn Kỹ thuật thủy khí (thuộc khoa Cơ khí) và nhóm Kỹ thuật nhiệt (thuộc khoa Điện) được sáp nhập vào Bộ môn Cơ học (thuộc khoa Khoa học cơ bản). Đến tháng 03/2011, Bộ môn Cơ học được điều chuyển trở lại khoa Cơ khí cho đến nay. Năm 2013, nhà trường điều chuyển các giảng viên thuộc tổ Kỹ thuật nhiệt về sinh hoạt chuyên môn cùng Bộ môn Kỹ thuật Ô tô và Máy động lực (thành lập năm 2013, trực thuộc Ban Giám hiệu). Đến năm 2014, tổ Kỹ thuật thủy khí được nhà trường điều chuyển sang khoa Kỹ thuật Ô tô và Máy động lực và tái thành lập Bộ môn Kỹ thuật thủy khí. Như vậy, đến nay, Bộ môn Cơ học gồm các thầy, cô giáo thuộc Bộ môn Cơ lý thuyết trước đây.

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển, mặc dù liên tục tách – nhập, thay đổi theo yêu cầu của Nhà trường nhưng Bộ môn Cơ học luôn là tập thể đoàn kết, vững mạnh. Nhiều năm liền đã được trường đại học Kỹ thuật Công nghiệp, Đại học Thái nguyên và Bộ GD & ĐT tặng danh hiệu tập thể  lao động xuất sắc. Bộ môn Cơ học có nhiệm vụ giảng dạy và đào tạo trình độ đại học, sau đại học các môn học cơ sở cốt lõi thuộc các lĩnh vực cơ học vật rắn, cơ học chất lỏng, nhiệt kỹ thuật  cho các ngành kỹ thuật của Khoa Cơ khí và Trường đại học Kỹ thuật Công nghiệp. Gắn liền với sự phát triển lớn mạnh của khoa Cơ khí, với tâm huyết và yêu nghề của các thế hệ giảng viên, Bộ môn không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ và cải tiến nội dung các môn học đảm nhiệm, chú  trọng công tác nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng sinh viên thi Olympic cơ học toàn quốc.

Từ năm 2000 đến nay, các thầy cô trong bộ môn đã tham gia và chủ trì một số đề tài nghiên cứu cấp Bộ và NCKH cơ bản, viết giáo trình phục vụ công tác giảng dạy:

  • Sách, giáo trình xuất bản:

1. Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Thế Đức. “Cơ sở tính toán động lực học dòng chảy sử dụng hệ lưới cong có cấu trúc”. NXB Đại học Quốc Gia, 2008.

  • Các đề tài cấp Bộ:

1. Nguyễn Văn Tuấn, “ Sóng xung kích trong một số chất lỏng, chất khí hai thành phần”. Mã số B2000 – TN 01-39 (2003).

2. Nguyễn Văn Tuấn, “Quá trình lan truyền và phản xạ bởi van đóng trong một số hỗn hợp hai pha”, Mã số B2006 – TN 02 – 04 (2008).

3. Nguyễn Văn Tuấn, “Phương pháp sai phân hữu hạn và các kỹ thuật cao, sử dụng phương pháp lưới cong trong tính toán động lực học dòng chảy”. Đề tài nghiên cứu cơ bản, mã số  3.056. 06 (2008).

4. Nguyễn Văn Tuấn, “Động lực học sóng với quá trình trao đổi nhiệt và khối lượng giữa các pha trong một số hỗn hợp chất lỏng chứa bọt hơi”, Mã số B2009 – TN02 – 02 (2011).

5. Nguyễn Văn Tuấn, “Nghiên cứu hiện tượng búa nước trong hỗn hợp chất lỏng hai pha”, Mã số ĐH 2013 – TN02 – 08 (đang hoàn thiện).

 

Định hướng phát triển bộ môn:

- Xây dựng Bộ môn vững mạnh về chuyên môn, nghiệp vụ đào tạo, có khả năng sử dụng ngoại ngữ và ứng dụng tin học trong công tác chuyên môn và nghiên cứu khoa học.

- Phát triển hợp tác quốc tế về đào tạo và nghiên cứu khoa học.

Các lĩnh vực nghiên cứu:

- Rung động kỹ thuật, động lực học kỹ thuật.

- Cơ học chất lỏng

Tin mới hơn

Tin cũ hơn

Tin xem nhiều